hình ảnh một cái quán nước nghèo nàn bên dốc Sơn Mỹ (hình tác giả tháng 7/1995) xe minsk của Liên Xô một thời là phương tiện thịnh hành mua bán trong thời 'ngăn sông cấm chợ"
Thật lòng thưa với bạn
đọc ngày xưa tôi rất mê đọc bộ truyện Võ
Lâm Ngũ Bá (Kim Dung). Tập truyện này lúc học sinh tôi từng đọc lui đọc tới
không biết chán. Từ trường Nguyễn Hoàng về nhà, có khi tôi không theo
đường Duy Tân, lại theo Lê thái Tổ đi lên hướng Chợ Tỉnh, xong men
theo con phố chính Trần Hưng Đạo đi
xuống. Tôi hay ghé tiệm sách Tao Đàn hỏi mấy tập kế của Võ Lâm Ngũ Bá về
chưa?
Trong Ngũ Bá có Cửu Chỉ Thần Cái Hồng Thất Công coi về Cái Bang, là "sếp" của phái Ăn Xin trong truyện. Hồng Thất Công có môn "Đả Cẩu Bổng Pháp" tức 'võ đánh chó' ; dĩ nhiên, người Cái Bang thì hay gặp chó, mà găp chó thì phải có võ để trị ; nhưng trong truyện "Đả Cẩu" này lại là món võ mà quần hùng phải sơ. Đó là chưa kể đến Giáng Long Thập Bát Chưởng từng sánh vai với Nhất Duơng Chỉ, thần công cái thế, của Vuơng Trùng Dương sau này là tổ sư của Toàn Chân phái mà đứa cháu là Trương Tam Phong kế truyền và là tổ sư của Võ Đang Phái.
Miên
man chuyện võ hiệp của Tàu, thực ra không ăn nhập gì câu chuyện tôi sắp kể
đây, ngoại trừ hình ảnh cái áo của Trưởng Lão Cái Bang Hồng thất Công.
Những
ngày di dân Quảng Trị vào Bình Tuy, cụ thể hơn là Hàm Tân và chi tiết hơn nữa
là xứ Động Đền, những làng xã QT bên bờ đại dương, vùng vịnh Hàm tân. Tôi ghi
nhớ hình ảnh của một 'Hồng thất Công thứ hai' chăng? Bạn đọc sẽ thắc mắc
tại sao lại là 'Hồng thất Công thứ hai'? Ý tưởng của tôi sao 'ngồ ngộ' khi so
sánh hình ảnh một ông già bán quán bên đường quê hương với một nhân vật võ
hiệp.
Người Quảng Trị sống trên con dốc Sơn Mỹ (trước là xã Tân Sơn-Hàm Tân) ai mà chẳng biết ông. Ông là người bắc di cư, từng sống tại QT. Gia đình ông cũng theo người mình vào đây thời Khẩn Hoang Lập Ấp, năm 1973 cho đến bấy giờ.
Con đường đất đỏ, tức là tỉnh Lộ 23
(giờ là QL 55) là con đường nối từ
Hàm Tân Bình Châu và lên xa hơn nữa. Đi ngược lại, trước khi đổ
dốc, xuống chợ Cam Bình để về thị xã LaGi, người ta thấy căn nhà tôn nho nhỏ của ông bán hàng ẩn
mình dưới vài gốc cây mít. Sinh kế của ông ngoài cái quán nhỏ trước mái hiên
nhà, vài thẩu kẹo, vài nải chuối, chẳng có món hàng nào đắt giá. Tôi không biết
nhà ông có vào rừng canh tác làm rẫy hay không? Mỗi lúc đi ngang, tôi chỉ thấy
ông ngồi giữ quán. Đôi khi tay cầm ống thuốc lào, rít một hơi thuốc dài lê thê rồi buông ra làn
khói bay bay. Đó là giây phút ông mơ màng,
chẳng cần để ý có ai nhìn mình hay chăng.
Thân
tôi chẳng khác gì hơn. Là hình ảnh một gã tiều phu đang khom mình thồ chiếc xe củi nặng. Bắt đầu quán
ông là chiếc xe củi của tôi bắt đầu xuống con dốc. Tôi bắt đầu dùng hết sức mình, ghì chiếc xe thồ nặng nề
chậm lại. Mỗi lúc ngang qua nhà ông, hình ảnh “đậm nét” khiến người viết nhớ
mãi là gì? tôi sẽ lần lượt kể lại cho bà con QT mình nghe 'chơi'.
Ông bán hàng đang 'rít' ống thuốc Lào, thuốc Lào thì chẳng lạ gì, nhưng mắt tôi không thể bỏ qua cái áo ông mặc.
Chiếc áo lạ lùng với nhiều lớp vá chằng chịt. Những miếng vải đủ thứ chồng lên
nhau không còn một chỗ trống. Hình như ông chỉ mặc cái áo hơi quái dị đó? Hình như chiếc áo đó càng rách, ông lại càng
vá thêm. Đó là lý do làm chiếc áo phải nặng nề thêm. Tuy tôi không mặc nó nhưng
bạn thử hình dung chiếc áo kia ắt hẳn phải nặng chình chịch thôi!
hình minh họa- anh tiều phu bán củi đang
đổ con dốc
Người kể chuyện này có thể thông cảm cho ông, có thể do đây là một hành động âm thầm, ông đang chống
đối hay bất mãn một cái gì đó? Sự nghèo túng, thiếu thốn của một miền đất khổ
hay hoàn cảnh chung cho toàn thể bà con lối xóm quanh ông? Vá- chắp tiếp nối vá- chắp? Chiếc xe
thồ củi của tôi chẳng hơn gì thân phận ông? chiếc ruột xe, nói theo bà con mình
hồi đó là vá “chằm vá đụp” đến nổi
mấy chú thợ sửa xe đạp như anh Hạ (cà phê) gần Chùa Huệ Đức, anh Lợi, anh Oai
thợ sửa xe đạp trước chợ Xã từng lắc đầu ái ngại cho tôi. Đó là chiếc xe đạp
thồ cũng mang 'thân phận vá chắp' khi
hai chiếc lốp không còn nơi nào để vá? Một thời, mua cái ruột xe đạp, cái đùm,
sợi xích, cái rô -líp Trung Quốc là cả "một gia tài".
Lớp
trẻ lớn lên sau này dĩ nhiên không có cơ hội sống qua một thời " TEM
PHIẾU". Mỗi năm người dân chỉ có
“tiêu chuẩn” vài ba tấc vải. Ai không may có thể mua nhiều tấc vải khác
màu. Như vậy chiếc áo “trường kỳ kháng
chiến” của ông Uy trong câu chuyện này là câu trả lời cụ thể và hình
tượng nhất cho sự thiếu thốn cùng cực đương thời. “Cán bộ, công nhân viên” cấp
xã- (cách gọi thời đó) có thể khá hơn một ít. Một ít thôi; nghĩa là mỗi năm hơn
dân vài ba tấc vải, dăm ba lạng thịt heo (nhưng
ai cũng ưa nhiều mỡ , rán để dành), một vài lạng trà đường.
Ngang đây, người viết cũng chưa nói hết ý mình. Cái áo với cái quán nghèo ven đường ngày đó làm tôi nhớ lại Cụ "Hồng thất Công" trong Võ Lâm Ngũ Bá, đề cập ở đầu bài. Cửu Chỉ Thần Cái mà sống lại, đem áo ra so với ông ư? Hồng thất Công cũng chào thua cái áo vá của Cụ Uy bên con dốc này thôi. Bạn đọc thử tưởng tượng xem- cái quần đùi kaki bạc phếch, bên trên là cái áo vá kia, hai thứ đều chồng chất lớp lớp thời gian, lưu dân QT bao năm sống tại vùng này, rẫy rừng làm bạn.
Ông Uy hàng ngày ngồi trong cái quán nghèo kia. Có thể đó là thời gian ông từng lơ đãng ngó ra. Ông ngắm từng đoàn xe đạp thồ than củi, những toán đàn bà con gái gánh gồng, vội vàng đi qua trước mắt ông. Những đoàn dân quê lao lực, củi than cùng nông phẩm nặng nề thi nhau đổ dốc. Dưới kia là phố thị La Gi; đêm về từng hàng ghe tàu ra khơi, hàng vạn ngọn đèn măng -sông câu mực thi nhau lấp lánh. Quá khứ của Ông, cũng sống cùng người dân QT ngoài kia, đồng cam cộng khổ theo bà con mình vào tận Bình Tuy, khai sơn phá thạch, tạo nên một quê hương thứ hai nói 'rặc giọng mình'; trừ ông, vẫn cái giọng Bắc rất chuẩn xác. Quá khứ của ông có gì nổi trội? chẳng ai biết ngoại trừ câu chuyện là ông "nấu thịt chó rất ngon", đơn giản chỉ có thế. Tôi cũng xin nhắc lại chuyện ông nhạc tôi kể lại cho tôi rằng: ông nấu thịt chó 'cừ khôi' đến nổi có ông cố vấn Mỹ thời trước đóng tại Quảng Trị 'từng yêu chó, quý chó' mà phải 'chết mê chết mệt' vì món thịt chó của ông!
một 'thời thịt chó' của Ông bán hàng thời
sống tại Quảng Trị trước 1972
Có thể trong bút ký này, Ông hay bà con ai đó không bằng lòng khi
người viết kể chuyện về chiếc "áo vá"; nhưng nghĩ lại vào thời
đó tất cả kể cả người viết đều cùng cảnh ngộ. Một cảnh đời rách rưới, cơ
khổ, chắp vá cùng tột, tất cả đều ngụp lặn tìm sống và mong cầu.
Dù áo của ông Uy vá nhưng tác giả cho rằng khó có ai có thể vá áo chồng chắp, chằng chịt bằng ông. Một ý nghĩ hài hước thoáng qua, giá như ai đó đi “thi vá áo” thì khó lòng thắng được ông Uy. Ngay cả cụ Cửu Chỉ Thần Cái, trong truyện Kim Dung nếu như sống lại chắc cũng chào thua ông lão bán hàng bên dốc Sơn Mỹ ngày đó.
Chuyện
ngày qua, vài thập niên trôi nhanh như gió thoảng. Một con dốc bên triền đất
lở, có cái quán nghèo chỉ vài nải chuối đu đưa trên vài ba thẩu kẹo rẻ tiền...
có ông lão bán hàng với chiếc áo vá gây ấn tượng. Ông đang mơ
màng với cụm khói thuốc lào từ từ bốc cao. Làn khói như muốn theo đám mây
trời đang bảng lảng trôi về phương trời
Quảng Trị, một quá khứ thật xa./.

No comments:
Post a Comment