Saturday, February 21, 2026

HOÀNG LONG HẢI- TẾT NHỚ NHÀ

 


Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

Lý Bạch

 

 

 

 

          Lý Bạch ngồi nhìn trăng sáng, rồi nằm xuống, kê đầu lên gối mà nhớ nhà. Tiếng Tàu: vọng là trông, xem

Đêm nay mồng hai Tết, không có trăng, nhưng ở xứ nầy, tuyết mênh mông. Ngoài vườn, ngoài đường, các mái nhà quanh xóm, đâu cũng tuyết. May mắn, đêm nay tuyết không xuống, mưa không rơi, trời khô nên sáng. Tuyết phản chiếu ánh sáng của bầu trời nên trời sáng lên, tưởng như có trăng non vậy.


          Nằm không yên, tôi ra ngồi bên cửa sổ rộng, - “bay window” – đặt thêm cái lò sưởi điện nhỏ bên cạnh cho đỡ lạnh. Việc nầy làm tôi nhớ cái “lồng ấp” của “mạ” tôi. “Mạ” tôi thường dùng vào những ngày quá lạnh, gió Bấc thổi vi vu qua những hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn.

 

“Đêm nay trời lạnh lắm,

Quê nhà có lạnh không?

Nhớ người nằm dưới mộ,

Mênh mông tuyết giá buồn”

 

Em đi mười năm nhỉ,

Ta vẫn còn ngồi đây!

Trơ thân làm tượng đá

Đá vương vạn giọt sầu...


Nhớ người nằm dưới mộ  là nhớ Thu Hường đấy. Nghĩa trang xứ Mỹ nầy được chăm sóc kỹ, đẹp lắm. Nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, mênh mông tuyết là tuyết.


Những ngày gần “đi”, tôi và các con đưa cô ấy đi tìm nơi yên nghĩ ngàn đời. Nơi Hường nằm bây giờ đẹp lắm. Đó là một hòn đảo, chung quanh là một dòng sông uốn quanh, hình vòng tròn, nối liền với đất liền bằng một con đập.


Tôi đưa Hường ra chỗ đất gần bờ sông, nói: “Chỗ nầy đẹp đây. Buồn thì ra bờ sông ngồi chơi, như anh với em ngày xưa ngồi bên sông Thạch Hãn vậy. Bên kia là Highway 290, xe cộ chạy liền liền, nhìn cũng vui. Đâu đến nỗi cô quanh.


Hường nói: Chỗ nầy em cũng ưa, nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, lạnh lắm”.

 

Tôi biết tính vợ, làm thinh, không nói, sợ cô ta bị “sốc”. Lên xe rồi, tôi cầm lái, cô ấy ngồi bên cạnh, các con gái ngồi phía sau. Tôi nói, với mọi người:

Má sợ mùa đông ngoài nầy lạnh. Mai mốt, Má “đi” rồi, mình đem má về ở trong nhà. Ba năm mới đem má ra đây. Lúc đó, ba cũng tới kỳ rồi. Ba đi với má ra nằm nghĩa địa, trời lạnh, có nhau cũng ấm lòng.”

Hường nghe nói, có vẻ vui. Có tôi bên cạnh mà!


Vậy mà tôi thờ tro cốt của Hường ở trong nhà đến 4 năm mới đưa cô ấy ra nghĩa trang, trễ một năm như đã hẹn với lòng. Thương quá, không muốn đưa cô ấy đi sớm, sợ cô ấy lạnh!


Mà tôi thì tới bây giờ vẫn còn sống nhăn. Mười năm rồi còn gì!!!! Cô ấy vẫn một mình ngoài nầy

Chuyện nhà, bao giờ tôi cũng lo hết lòng cho vui lòng mọi người trong gia đình: Mẹ, các anh chị em, vợ con... Nhớ lại chuyện hồi còn đi học, lòng không thấy vui.

Năm học Lớp Nhất với ông Hồ Đắc Hanh, ông cho học bài “Mã Viện”. Câu nói của ông tướng Tàu nầy làm tôi băn khoăn:  Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì?

Thầy Hồ Đắc Hanh, sau khi nhập ngũ, hy sinh bên kia sông Thạch Hãn, chết cháy trong M-113, thăng cố đại tá.


Lại nhớ hồi nhỏ đóng kịch với Nguyễn Cẩm, - em đại tá Bé – Trong trại tù, Cẩm nổi tiếng “vua “cát-xô” -. Tôi với nó giành nhau đóng vai Kinh Kha. Khi ở đảo Bidong, viết thư cho Cẩm, tôi nhắc chuyện cũ bằng hai câu thơ:


“Kinh kha ngày ấy còn ngu dại,

Chưa bước chân đi đã nhớ nhà.


Cũng xin kể một chuyện cũ, “làm anh hùng” nữa.

Năm 1957, nhân dịp “Kỷ niệm 61 năm trường Quốc học”, tôi lại đóng kịch chơi. Nguyễn Hữu Châu Phan làm đạo diễn, biểu tôi đóng vai Hạng Võ trong vở kịch thơ “Tiếng địch sông Ô” của Phạm Huy Thông, chị Lê Thị Thảo đóng vai Ngu Cơ. Bọn tôi mấy đứa phải tới nhà chị Thảo, năn nỉ, chị mới chịu đóng kịch đấy. Bạn học Phạm Hữu Lương, - em bác sĩ Phạm Biểu Tâm, - dẫn tôi ra rạp hát Bà Tuần ở đường Ngã Giữa để mượn áo quần hát bội mà đóng kịch. Kết quả: Hạng Võ bị chê  “ốm quá”, “bạch diện thư sinh.” Nguyễn Hữu Châu Phan chọn lộn người.


Cái tính ngông cuồng của thời niên thiếu xa rồi.

Nói cho cùng, đời tôi chẳng ra cái gì cả, chẳng được cái gì cả. 30 tháng Tư: Đem vợ con bỏ chạy. 7 năm tù cải tạo về: Trốn vượt biên.


“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Anh cả tôi bị Tây thủ tiêu ở Huế năm 1949, vì tội “làm Việt Minh”, khi mới 21 tuổi. 23 năm sau, 1972, mẹ tôi mất đứa con trai út: Hùng tử trận ở gần Ga Xe Lửa Quảng Trị vì “đem quân về chiếm lại quê hương.” Năm ấy Hùng 28 tuổi.


Anh em như vậy!

Đâu có ai như tôi... “Cơm cha áo mẹ công thầy...”


Nói vui vậy thôi. Năm ngoái đây, các con làm lễ đại thọ cho ba, 90 tuổi. Con người càng già, thường ngó lại quá khứ. Tôi chẳng có gì để ngó lại, nhưng những người “Quảng Trị tui” như tôi, mỗi năm 365 ngày, ít ra cũng có trên dưới 300 ngày để nhớ quê cũ.


Quê cũ tôi, chẳng còn gì để tôi nhớ. Nhà không còn. Chỗ đất cũ, “ai” dựng lên đó một cái nhà lầu cao. Đứng ngoài nhìn vào, không dám vô để coi ai ở trên đất nhà cũ của mình, sợ lỡ ông ta lấcn bộ, ổng nghĩ rằng tôi về để đòi nhà, ổng kêu Công An thì... “bỏ mẹ”.

Ra đứng bên bờ sông Thạch Hãn, tôi nhìn dòng sông nay đã cạn dần, bỗng nhớ câu thơ của Trần Tế Xương:

         

                   Sông kia rày đã nên đồng

                   Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

                   Đêm nghe tiếng ếch bên tai,

                   Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

 

          Mai mốt đây, con sông cạn đổi dòng. Nó sẽ nhập với sông Bàu Vịt mà đổ nước ra sông Ái Tử, để cùng nhau trôi ra Biển Đông. Ai đó, - vì khi đó, tôi đã ra người thiên cổ -, sẽ đọc lại câu văn của Tô Hoài trong “Xóm Giếng ngày xưa”“Nó đã xa đi rồi, con sông vui vẻ. Nó đem nước giỡn vào những cánh đồng xa lạ khác, để cái ngõ tre ngơ ngác đứng lại một bên bờ...” Bấy giờ, “thành cổ Quảng Trị” sẽ đóng vai cái ngõ tre ngơ ngác trông theo dòng sông Thạch Hãn.


“Tôi sinh ra bên bờ sông Thạch Hãn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hãn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hãn. Sông không còn thì tất cả sẽ không còn, mà từ lâu, tôi cũng đã không còn.

          Sông Thạch Hãn!

          Không thể không nhớ tới mấy câu hát của Hoàng Thi Thơ.

Làng Bích Khê của ông, nằm dưới kia, qua khỏi khúc sông ngang nhà tôi,  cạnh Chùa Tỉnh Hội, một lúc là tới:

Đường xưa lối cũ có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài.” Sông dài là sông Thạch Hãn, nối dài với sông Vĩnh Định, sông Cánh Hòm, sông Hiếu Giang trên con đường “đi buôn đò giọc” của người dân Quảng Trị/ Thừa Thiên. “Tiếng ca trên sông dài, phải chăng Hoàng Thi Thơ muốn nói  tiếng hò mái đẩy, mái nhì của những chuyến đò giọc, người mẹ từng than:

 

          Mẹ già cuốc đất trồng tiêu,

     Con theo đò giọc mẹ liều con hư.

 

Hoàng Thi Thơ có những bài hát rất thật, rất đáng yêu khi ông theo kháng chiến.


          Khi Thanh Nga dạy ở Trường Tiểu Học Đại Hào, buổi chiều tôi thường xuống đón cô ta về. Chúng tôi quen nhau vì “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi”.

Trên con “đường cửa Việt” về tỉnh, đạp xe song song, có khi tôi hát “bóng nâu in đường trăng”, mặc dù mấy năm trước, cô ta học trường Đồng Khánh, chẳng mặc áo nâu bao giờ. Phải chi những hôm đó, có trăng lên sớm, từ hướng Biển Đông thì vui hơn nhiều.


          Nga là đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, chết trong một trận đánh xảy ra ở làng cô, tỉnh Quảng Nam. Ông quận trưởng đến thăm làng, khi lửa đạn không còn. Thấy “con bé mười tuổi” đứng khóc một mình, ông động lòng, đem “con bé” về cho vợ nuôi. Nga lớn lên và gặp tôi khi cô làm cô giáo.


          Thế rồi tôi đi xa, mối tình chưa bắt đầu đã vội xa nhau. Mặc dù quê tôi không thiếu vườn dâu, vườn khoai để chúng “níu tay anh, níu chân anh” vì muốn tôi ở lại chăng?


          Mười năm sau, khi tôi đã xa Nga rồi, Nga lấy chồng, chồng lại tử trận.


Ai nói chiến tranh “đại thắng” là “vinh quang”, là vui, là không buồn, là không nghiệt ngã, đau đớn cho sông Thạch Hãn và những người như tôi, uống nước sông Thạch Hãn từ khi còn thơ ấu./.

 

hoànglonghải

mồng 3 Tết/ Bính Ngọ  

.     

 

No comments:

Post a Comment

LƯU BÚT NGÀY XANH

  Theo năm tháng hoài mong thư gửi đi mấy lần đợi hồi âm chưa thấy em ơi nhớ rằng đây còn có anh đêm ngày hằng thương nhớ vơi đầy (Châu Kỳ/ ...