Friday, February 27, 2026
LƯU BÚT NGÀY XANH
HÌNH QUÊ TRUỒI
BẾN NƯỚC CHỢ LỘC ĐIỀN TRUỒI
HÌNH ẢNH DO NĂM RÒM LÀ NGƯỜI GHI LẠI TỪ CÁC TÀI LIỆU CỦA BÁO LIFE, MỘT TỜ BÁO LỚN CỦA HOA KỲ
HÌNH ẢNH NÀY DO LÍNH HOA KỲ GHI LẠI TRONG CUỘC CHIẾN VN GẦN CUỐI THẬP NIÊN 1960
NHỜ VÀO CÁI CẦU TRUỒI VÀ CÁI THÁP CANH THỜI PHÁP BÊN KIA SÔNG NÊN CHÚNG TÔI MỚI NHẬN RA ĐÂY LÀ BẾN NƯỚC CHỢ LỘC ĐIỀN ĐI XUỐNG. XƯA BÀ NỘI CHÚNG TÔI NGÀY NGÀY ĐI ĐÒ NGANG BÊN KIA BẾN ĐÒ XUÂN LAI QUA BẾN ĐÒ NÀY ĐỂ LÊN CHỢ LỘC ĐIỀN BÁN HÀNG GÁNH CHÁO VÀ BÁNH BỘT LỌC NUÔI SỐNG GIA ĐÌNH
HIỆN NAY CHỢ LỘC ĐIỀN TUY KHÔNG SẦM UẤT NHƯNG VẪN CÒN. GIA ĐÌNH THÍM LIÊN VỢ CỦA CHÚ TÔI Ở ĐÂY CÙNG CON CHÁU.
1965 hình ảnh của Quân Đội Hoa Kỳ xe Mỹ từ Huế vô qua cầu Truồi chụp hình này
BẾN NƯỚC SÔNG TRUỒI CHỢ LỘC ĐIỀN BÊN TÊ SÔNG LÀ BẾN ĐÒ XUÂN LAI THUỘC Xã LỘC AN
Saturday, February 21, 2026
HOÀNG LONG HẢI- TẾT NHỚ NHÀ
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Lý Bạch
Lý Bạch ngồi nhìn trăng sáng, rồi nằm xuống, kê đầu lên gối mà nhớ nhà. Tiếng Tàu: vọng là trông, xem
Đêm nay mồng hai Tết, không có trăng, nhưng ở xứ nầy, tuyết mênh mông. Ngoài vườn, ngoài đường, các mái nhà quanh xóm, đâu cũng tuyết. May mắn, đêm nay tuyết không xuống, mưa không rơi, trời khô nên sáng. Tuyết phản chiếu ánh sáng của bầu trời nên trời sáng lên, tưởng như có trăng non vậy.
Nằm không yên, tôi ra ngồi bên cửa sổ rộng, - “bay window” – đặt thêm cái lò sưởi điện nhỏ bên cạnh cho đỡ lạnh. Việc nầy làm tôi nhớ cái “lồng ấp” của “mạ” tôi. “Mạ” tôi thường dùng vào những ngày quá lạnh, gió Bấc thổi vi vu qua những hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn.
“Đêm nay trời lạnh lắm,
Quê nhà có lạnh không?
Nhớ người nằm dưới mộ,
Mênh mông tuyết giá buồn”
Em đi mười năm nhỉ,
Ta vẫn còn ngồi đây!
Trơ thân làm tượng đá
Đá vương vạn giọt sầu...
Nhớ người nằm dưới mộ là nhớ Thu Hường đấy. Nghĩa trang xứ Mỹ nầy được chăm sóc kỹ, đẹp lắm. Nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, mênh mông tuyết là tuyết.
Những ngày gần “đi”, tôi và các con đưa cô ấy đi tìm nơi yên nghĩ ngàn đời. Nơi Hường nằm bây giờ đẹp lắm. Đó là một hòn đảo, chung quanh là một dòng sông uốn quanh, hình vòng tròn, nối liền với đất liền bằng một con đập.
Tôi đưa Hường ra chỗ đất gần bờ sông, nói: “Chỗ nầy đẹp đây. Buồn thì ra bờ sông ngồi chơi, như anh với em ngày xưa ngồi bên sông Thạch Hãn vậy. Bên kia là Highway 290, xe cộ chạy liền liền, nhìn cũng vui. Đâu đến nỗi cô quanh.
Hường nói: Chỗ nầy em cũng ưa, nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, lạnh lắm”.
Tôi biết tính vợ, làm thinh, không nói, sợ cô ta bị “sốc”. Lên xe rồi, tôi cầm lái, cô ấy ngồi bên cạnh, các con gái ngồi phía sau. Tôi nói, với mọi người:
Má sợ mùa đông ngoài nầy lạnh. Mai mốt, Má “đi” rồi, mình đem má về ở trong nhà. Ba năm mới đem má ra đây. Lúc đó, ba cũng tới kỳ rồi. Ba đi với má ra nằm nghĩa địa, trời lạnh, có nhau cũng ấm lòng.”
Hường nghe nói, có vẻ vui. Có tôi bên cạnh mà!
Vậy mà tôi thờ tro cốt của Hường ở trong nhà đến 4 năm mới đưa cô ấy ra nghĩa trang, trễ một năm như đã hẹn với lòng. Thương quá, không muốn đưa cô ấy đi sớm, sợ cô ấy lạnh!
Mà tôi thì tới bây giờ vẫn còn sống nhăn. Mười năm rồi còn gì!!!! Cô ấy vẫn một mình ngoài nầy
Chuyện nhà, bao giờ tôi cũng lo hết lòng cho vui lòng mọi người trong gia đình: Mẹ, các anh chị em, vợ con... Nhớ lại chuyện hồi còn đi học, lòng không thấy vui.
Năm học Lớp Nhất với ông Hồ Đắc Hanh, ông cho học bài “Mã Viện”. Câu nói của ông tướng Tàu nầy làm tôi băn khoăn: “Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì?”
Thầy Hồ Đắc Hanh, sau khi nhập ngũ, hy sinh bên kia sông Thạch Hãn, chết cháy trong M-113, thăng cố đại tá.
Lại nhớ hồi nhỏ đóng kịch với Nguyễn Cẩm, - em đại tá Bé – Trong trại tù, Cẩm nổi tiếng “vua “cát-xô” -. Tôi với nó giành nhau đóng vai Kinh Kha. Khi ở đảo Bidong, viết thư cho Cẩm, tôi nhắc chuyện cũ bằng hai câu thơ:
“Kinh kha ngày ấy còn ngu dại,
Chưa bước chân đi đã nhớ nhà.
Cũng xin kể một chuyện cũ, “làm anh hùng” nữa.
Năm 1957, nhân dịp “Kỷ niệm 61 năm trường Quốc học”, tôi lại đóng kịch chơi. Nguyễn Hữu Châu Phan làm đạo diễn, biểu tôi đóng vai Hạng Võ trong vở kịch thơ “Tiếng địch sông Ô” của Phạm Huy Thông, chị Lê Thị Thảo đóng vai Ngu Cơ. Bọn tôi mấy đứa phải tới nhà chị Thảo, năn nỉ, chị mới chịu đóng kịch đấy. Bạn học Phạm Hữu Lương, - em bác sĩ Phạm Biểu Tâm, - dẫn tôi ra rạp hát Bà Tuần ở đường Ngã Giữa để mượn áo quần hát bội mà đóng kịch. Kết quả: Hạng Võ bị chê “ốm quá”, “bạch diện thư sinh.” Nguyễn Hữu Châu Phan chọn lộn người.
Cái tính ngông cuồng của thời niên thiếu xa rồi.
Nói cho cùng, đời tôi chẳng ra cái gì cả, chẳng được cái gì cả. 30 tháng Tư: Đem vợ con bỏ chạy. 7 năm tù cải tạo về: Trốn vượt biên.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Anh cả tôi bị Tây thủ tiêu ở Huế năm 1949, vì tội “làm Việt Minh”, khi mới 21 tuổi. 23 năm sau, 1972, mẹ tôi mất đứa con trai út: Hùng tử trận ở gần Ga Xe Lửa Quảng Trị vì “đem quân về chiếm lại quê hương.” Năm ấy Hùng 28 tuổi.
Anh em như vậy!
Đâu có ai như tôi... “Cơm cha áo mẹ công thầy...”
Nói vui vậy thôi. Năm ngoái đây, các con làm lễ đại thọ cho ba, 90 tuổi. Con người càng già, thường ngó lại quá khứ. Tôi chẳng có gì để ngó lại, nhưng những người “Quảng Trị tui” như tôi, mỗi năm 365 ngày, ít ra cũng có trên dưới 300 ngày để nhớ quê cũ.
Quê cũ tôi, chẳng còn gì để tôi nhớ. Nhà không còn. Chỗ đất cũ, “ai” dựng lên đó một cái nhà lầu cao. Đứng ngoài nhìn vào, không dám vô để coi ai ở trên đất nhà cũ của mình, sợ lỡ ông ta lấcn bộ, ổng nghĩ rằng tôi về để đòi nhà, ổng kêu Công An thì... “bỏ mẹ”.
Ra đứng bên bờ sông Thạch Hãn, tôi nhìn dòng sông nay đã cạn dần, bỗng nhớ câu thơ của Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Mai mốt đây, con sông cạn đổi dòng. Nó sẽ nhập với sông Bàu Vịt mà đổ nước ra sông Ái Tử, để cùng nhau trôi ra Biển Đông. Ai đó, - vì khi đó, tôi đã ra người thiên cổ -, sẽ đọc lại câu văn của Tô Hoài trong “Xóm Giếng ngày xưa”: “Nó đã xa đi rồi, con sông vui vẻ. Nó đem nước giỡn vào những cánh đồng xa lạ khác, để cái ngõ tre ngơ ngác đứng lại một bên bờ...” Bấy giờ, “thành cổ Quảng Trị” sẽ đóng vai cái ngõ tre ngơ ngác trông theo dòng sông Thạch Hãn.
“Tôi sinh ra bên bờ sông Thạch Hãn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hãn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hãn. Sông không còn thì tất cả sẽ không còn, mà từ lâu, tôi cũng đã không còn.
Sông Thạch Hãn!
Không thể không nhớ tới mấy câu hát của Hoàng Thi Thơ.
Làng Bích Khê của ông, nằm dưới kia, qua khỏi khúc sông ngang nhà tôi, cạnh Chùa Tỉnh Hội, một lúc là tới:
“Đường xưa lối cũ có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài.” Sông dài là sông Thạch Hãn, nối dài với sông Vĩnh Định, sông Cánh Hòm, sông Hiếu Giang trên con đường “đi buôn đò giọc” của người dân Quảng Trị/ Thừa Thiên. “Tiếng ca trên sông dài, phải chăng Hoàng Thi Thơ muốn nói tiếng hò mái đẩy, mái nhì của những chuyến đò giọc, người mẹ từng than:
Mẹ già cuốc đất trồng tiêu,
Con theo đò giọc mẹ liều con hư.
Hoàng Thi Thơ có những bài hát rất thật, rất đáng yêu khi ông theo kháng chiến.
Khi Thanh Nga dạy ở Trường Tiểu Học Đại Hào, buổi chiều tôi thường xuống đón cô ta về. Chúng tôi quen nhau vì “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi”.
Trên con “đường cửa Việt” về tỉnh, đạp xe song song, có khi tôi hát “bóng nâu in đường trăng”, mặc dù mấy năm trước, cô ta học trường Đồng Khánh, chẳng mặc áo nâu bao giờ. Phải chi những hôm đó, có trăng lên sớm, từ hướng Biển Đông thì vui hơn nhiều.
Nga là đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, chết trong một trận đánh xảy ra ở làng cô, tỉnh Quảng Nam. Ông quận trưởng đến thăm làng, khi lửa đạn không còn. Thấy “con bé mười tuổi” đứng khóc một mình, ông động lòng, đem “con bé” về cho vợ nuôi. Nga lớn lên và gặp tôi khi cô làm cô giáo.
Thế rồi tôi đi xa, mối tình chưa bắt đầu đã vội xa nhau. Mặc dù quê tôi không thiếu vườn dâu, vườn khoai để chúng “níu tay anh, níu chân anh” vì muốn tôi ở lại chăng?
Mười năm sau, khi tôi đã xa Nga rồi, Nga lấy chồng, chồng lại tử trận.
Ai nói chiến tranh “đại thắng” là “vinh quang”, là vui, là không buồn, là không nghiệt ngã, đau đớn cho sông Thạch Hãn và những người như tôi, uống nước sông Thạch Hãn từ khi còn thơ ấu./.
hoànglonghải
mồng 3 Tết/ Bính Ngọ
.
Friday, February 20, 2026
NHỮNG MÙA THU QUA
viết tặng Bà Xã tôi
ĐHL
*
Mùa thu vẫn tới, vẫn dịu dàng một màu vàng thu của những hàng phong hai bên con đường vắng. Vợ chồng tôi vẫn còn may mắn rảo bước vào những buổi sáng sớm như hôm nay.
Cám ơn phước lành của số phận trao tặng cho chúng tôi khi thế giới đang có những sóng gió nhiễu nhương cùng đau khổ tràn ngập mọi nơi...
Chúng tôi còn nhiều diễm phúc để hàng ngày còn đếm bước chân đi, đón từng mùa thu mới về trên Đất Mỹ. Âm thầm cám ơn đôi mắt được nhìn và còn mừng khi tâm tư đang còn cảm nhận và rung động dạt dào trong cảnh đẹp VÀNG THU.
Những tàng phong vàng rực trước mắt kia chúng sẽ chuyển sang một màu đỏ ối- màu huyết dụ- trước khi lả chả rơi ngập tràn lối đi. Chỉ hai ba tuần lễ nữa thôi, mọi người sẽ đón một Giáng Sinh nữa sắp về.
Giáng Sinh năm nay sẽ là một giáng sinh buồn thảm cho mọi nơi do đại dịch ập đến. Đó là những gì chúng tôi tạm quên, cố gắng tạm để yên trong lòng khi Thu Vàng tĩnh lặn đang về trước mắt, hai bên con đường im vắng.
Rồi chúng ta sẽ chứng kiến một năm nữa qua đi. Sẽ còn hân hoan đón một mùa xuân mới. Chúng ta sẽ cộng thêm một tuổi đời. Cám ơn đời, cám ơn số phận.
Hai vợ chồng tôi cứ bảo nhau, hãy khen và cảm thụ một mùa thu đang đến. Hãy cùng thích thú với những tàng phong sắc vàng rực rỡ. Hãy khoan và chớ vội ta thán một mùa đông lạnh buồn tênh sắp về hay nỗi sợ lo vẩn vơ về tuổi đời chồng chất.
Thu vàng dịu dàng trước mắt. Chúng ta đang có những bước chân đi đều và đang hít thở làn không khí mới rồi cùng ngắm nhìn sắc thu. Những khoảnh khắc của sự giao thoa giữa tâm tư và ngoại cảnh. Giữa cảm tính của con người và vũ trụ tự nhiên. Đây là lúc thiên nhiên như biết nói. Thu vàng đang nói cùng ta.
Hãy để những tàng phong lá vàng đẹp đẽ cho chúng ta chiêm ngưỡng cái đẹp của mùa thu. Chớ vội và quên đi những mặc cảm bi quan của chính mình; đó là sự sợ hãi thời gian.
Những ngày dài rực nắng đã qua. THU VÀNG đang đến và rồi những mùa thu sẽ qua đi.
Dù được bao nhiêu lần nữa, chúng ta không quên cám ơn sắc màu rung cảm lòng người. Cám ơn màu VàngThu cùng những hàng phong xứ Mỹ ./.
Đinh trọng Phúc
2021
Wednesday, February 18, 2026
BÁNH KHOÁI CỬA THƯỢNG TỨ - MỘT NGÀY XƯA RẤT HUẾ
Chiều nay mưa trên phố Huế
Kiếp giang hồ không bến đợi
Mà mưa sao vẫn rơi rơi hoài cho lòng nhớ ai!
Trước khi vô cửa Thượng Tứ,(thời gian tui kể thuộc đầu thập niên 1970) bên tay phải tui nhớ có tiệm bánh khoái Lạc Thiện mà người ta muốn chắc địa chỉ nên gọi là bánh khoái cửa Thượng Tứ hay gọn lại là "Bánh Khoái Thượng Tứ". Thiên hạ gọi riết thành quen miệng nên quán Lạc Thiện đành chịu cái tên đó luôn.
Cửa Thượng Tứ thời xưa Pháp thuộc
Trong Nam người ta gọi bánh xèo (có lẽ vì đổ bột lên khuôn kêu cái "xèo" thì phải?). Có những chuyện tui ưa nhắc lại khi xưa đi ăn bánh khoái Thượng Tứ. Còn chữ khoái có người nói nguyên thủy là "khói" nhưng giọng Huế đọc trại đi là "khoái" ,gọi riết thì thành viết ra cũng như nói tức là khoái, nhưng chuyện này không có bằng chứng vì biết đâu do bánh ăn ngon quá, khoái miệng quá nên "khoái" cũng nên. Ai mà biết nguồn cơn cái tên nhưng dù sao Bánh Khoái Thượng Tứ một thời gian trước 1975 khách rành ăn từ Quảng Trị vô đến Huế, ít người mà không biết.
có ai đó hôm nay đang bước lang thang chiều mưa phố Huế, những đôi tình nhân nếu có vô cửa Thuợng Tứ bạn đừng quên ghé quán bánh khoái Lạc Thiện
Bây giờ người viết xin bắt đầu kể chuyện ăn "bánh Khoái" ra răng?
Bánh khoái Thượng Tứ khách vô ăn kêu từng cái một, nhiều lắm là hai cái cho khỏi mất công đợi. Mấy cái lò than luôn hừng hực nóng. O đổ bánh đổ bột lên cái khuôn, nói đúng là cái chảo nhỏ đường kính khoảng gang tay và bằng phần đáy. Vài con tôm sông không lột vỏ, chỉ cắt phần đầu cùng chân thôi. Tôm sông chưa lột vỏ nó có cái đặc biệt còn giữ mãi vị ngọt của nó, hơn nữa vỏ nó mềm hơn tôm biển. Một ít lát thịt heo ba chỉ nửa nạc -nửa mỡ , một nhúm giá còn "mum múp", nghĩa là chưa mọc dài quá. Bột đổ bánh thì bằng bột gạo ruộng không pha, có một ít bột nghệ cho vàng hay phẩm vàng cho đẹp mắt cùng hấp dẩn hơn.
Chảo nhỏ đổ bánh phải thật nóng mới đổ bánh. Một loạt sáu bảy cái lò than thế mà O đổ bánh làm thiệt nhịp nhàng không sai sót, không lộn hướng chút mô. O nhớ lần lượt theo từng khách gọi mới hay chớ !
Coi bộ cái bánh khoái đã vàng tới, O giở nắp , O lật úp cái bánh theo dạng gấp đôi gọn gàng vào cái dĩa cũng không lớn lắm. Dĩ nhiên tui kêu 2 cái cũng được , nhưng vì muốn bánh khi nào cũng nóng nên tui kêu từ từ thôi.
Chừ người kể chuyện xin nói đến món rau sống. Người Huế không ưa xà lách cắt nhỏ ra mô! Rau sống phải là cải non mới vài ba lá , loại cải cay con. Hương cải cay này nếu lớn thì làm dưa chua thì hết sẩy đó nghe ! Rau sống thì phải có khế chua không xanh quá cắt mỏng. Đặc biệt khi mô cũng có mấy lát vả.
Tiếp tục người viết xin nói về nước chắm tức là "nước lèo". Trong Nam lại kêu nước súp phở thì là nước lèo. Nước lèo ăn bánh khoái không phải nước mắm chua ngọt như ăn bánh xèo trong Nam. Nước lèo này làm bằng đậu phụng xay ra kho lại với đường mỡ gia vị tạo thành nước chắm sền sệt.
Bỏ một nhúm rau sống vào chén, tui lấy đũa chắn một miếng bánh khoái đang còn giòn vào xong tui chan một chút nước lèo . Khi đang nhai "nhồm nhòam ", tui không quên cắn một miếng ớt chìa vôi còn xanh vỏ , một chút tỏi từ cái dĩa nhỏ xíu cạnh bên.
Hồi ni tui có thể kêu bia "la dze" [La Rue] con cọp hay bia 33 con cọp nhỏ và ngon hơn. Sau này có Mỹ qua tui có thể kêu 1 lon bia bông trắng tức là Budweiser hay bia HAM. Nhưng nhìn quanh tui thấy thiên hạ ưng bia "la dze" con cọp "made in Cholon" hơn nhiều hơn mới lạ chớ !
- O..o .cho thêm một cái nữa O ơi !
Dạ..
(ham kể chuyện tui quên kêu thêm !!!)
Tui còn nhớ hồi đó có hai vợ chồng ông Tây nào đó ghiền bánh khoái Thượng Tứ ni lắm , khi nào tui vô ăn cũng gặp. Quán Lạc Thiện nhỏ bé khi mô cũng chật ních người. Thường thường giấc chiều là đông khách hơn hết. Có lẽ ban sáng dân phố Huế có ăn bún gánh , buổi chiều xem phim rạp Hưng Đạo gần đó khách vô ăn tiện hơn chăng?
Bánh của tui có chưa O?
Dạ có đây chú...
Tiếng O đổ bánh khoái nhanh nhảu trả lời.
Đó là âm thanh và hình ảnh ngày xưa. Giờ nó nằm trong ký ức xa xôi. Bữa ni tui nghe quán bánh khoái đó vẫn còn , thời gian phôi pha không biết người chủ cũ còn không và có thể thiên hạ quen "biên chế" quá nhiều nên người viết e rằng hương vị bánh khoái Thượng Tứ có phần mai một rồi chăng?
LƯU BÚT NGÀY XANH
Theo năm tháng hoài mong thư gửi đi mấy lần đợi hồi âm chưa thấy em ơi nhớ rằng đây còn có anh đêm ngày hằng thương nhớ vơi đầy (Châu Kỳ/ ...
-
XE THAN THỜI BAO CẤP THẬP NIÊN 1980 Tết sắp về rồi . Trên mọi nẻo đường quê hương đồng nghĩa với điệp khúc "năm hết tết đến...
-
tác giả Đinh trọng Phúc BA Social Science San Jose State University Chào bạn đọc Trước tiên mời quý bạn đọc một tin tức mới nhất về Đại H...
-
MỒNG MỘT THÁNG MỘT NGÀY KỶ NIỆM ĐÁM CƯỚI CỦA VỢ CHỒNG TÔI KÍNH TƯỞNG NIỆM TỨ THÂN PHỤ MẪU Ba tôi ngày xưa chọn ngày cưới cho hai vợ c...



















