Saturday, January 17, 2026

RA ĐI TỪ VÙNG ĐẤT KHỔ

 



BÊN MÁI TRANH NGHÈO ngày đầu năm 1992 Sơn Mỹ Hàm Tân 

GIÃ BIỆT MỘT VÙNG QUÊ

Gia đình hai vợ chồng tôi cùng bầy con dại ra đi thấm thoắt mà đã hơn 3 thập niên rồi. Ngày đó ra đi đồng nghĩa lìa xa đời sống rẫy rừng nơi vùng thôn dã. Những truông cát và đất đai bạc màu lỡ lói sát biển. Một đời sống không thấy đâu là ánh sáng tương lai?

về Cam Bình thăm nội ngoại


Người viết nhớ làm sao bao con đường mòn dẩn lối vào rừng. Một nắng hai sương làm bạn với chim kêu vượn hú hay la đà bao làn khói chiều cùng tiếng mõ vọng ra từ chòi giữ rẫy .

đường xưa lối cũ

Tôi nhớ làm sao con đường độc đạo xuyên qua thôn xã; đã thế đường còn lỡ lói triền miên! Một trận mưa là nước tuôn ào ạt, mái tranh nghèo dột nát, vườn đào nước xé tứ tung. Nhớ làm sao ngôi trường rách nát tả tơi, vợ tôi dạy hàng ngày với đồng lương tận cùng mức sống. Rồi những trái bắp những củ khoai bao trái mướp trái bầu đều là chắt chiu, tằn tiện cùng bầy con dại sống cho qua một kiếp cơ hàn.




con tôi bên mái tranh nghèo

Thế mà lạ lắm? Sức sống vẫn vươn lên. Ôi nhớ làm sao những nhát rìu mạnh bạo nào củi nào than chúng tôi vẫn có nhiều hạnh phúc nho nhỏ bên thiếu thốn cùng ước ao.

Rồi chúng tôi ra đi giã từ một vùng quê sát biển. Ra đi rồi chẳng còn nghe tiếng sóng biển vỗ bờ ì ào hàng đêm mỗi khi trời thuận gió. Rồi chẳng còn những sáng tinh mơ vác búa vào rừng.




Những đứa con tôi ê a tiếng học vỡ lòng cũng từ một vùng quê này, một vùng quê mang hai tiếng Sơn Mỹ. Có thể hôm nay hình ảnh mái trường rách nát đó đã phai nhòa đi trong tâm trí chúng. Những ngày non dại khoai sắn nhiều hơn cơm, tiếng gà tục tác hay tiếng heo kêu chắc không còn trong tâm tưởng những đứa trẻ lớn lên trên quê hương thứ hai Mỹ quốc.

Đường sá Sơn Mỹ ngày nay

Nhưng cũng có cái gì đó còn tồn đọng lại trong ký ức tuổi thơ của bầy con tôi. Tôi tin và từng ước ao như thế. Một niềm tin do đó là lớp sơn cuối cùng của ký ức, nằm dưới cùng của bề sâu tâm tưởng hay tận đáy lòng để có một ngày làm sức bật vươn lên...

Nếu một mai các con tôi có về Sơn Mỹ một vùng đất đã là nơi “chôn nhau cắt rốn” đúng nghĩa nhất cho chúng ắt hẳn sẽ không còn nhìn ra đường xưa lối cũ.  Ngay cả cha mẹ nó cũng vậy. Tất cả đều đổi thay. Những căn nhà xây, đường sá đều đổ nhựa. Tiếng xe hơi chạy qua vùn vụt cùng tiếng xe gắn máy ồn ào ...mọi người nay đang vội vả theo cuộc sống khác xưa.

chùa Huệ Đức hôm nay 

Tôi tìm thăm ngôi chợ cũ nay đã không còn, nó đã di chuyển từ lâu. Vườn xưa cảnh cũ hoàn toàn mất dấu ngay cả những người quen biết năm xưa còn lại chẳng mấy ai? Chuyện chẳng ngạc nhiên do đó là thời gian. Có một tâm lí 'là lạ': tôi như "Từ Thức trở về trần gian" sau hai thập niên xa cách? Ôi hai thập niên sao như một "giấc ngủ trưa" mà người đời thường ví!


resort Sơn Mỹ hiện tại

Tôi tìm thăm ngôi chợ cũ nhưng đã không còn, nó đã di chuyển từ lâu. Vườn xưa cảnh cũ hoàn toàn mất dấu ngay cả những người quen biết năm xưa còn lại chẳng mấy ai? Chuyện chẳng ngạc nhiên do đó là thời gian. Có một tâm lí 'là lạ': tôi như "Từ Thức trở về trần gian" sau hai thập niên xa cách? Ôi hai thập niên sao như một "giấc ngủ trưa" mà người đời thường ví!
Có khi tôi nghe lại tiếng mưa, chợt tưởng mình như cõi mộng du? Tiếng rào rạt của cơn mưa đầu mùa càng rõ dần. Mưa rơi như đánh động tiềm thức của tôi  về lại ngày tháng xa xăm...trận mưa đầu mùa là lúc tôi đi bỏ hạt. Bao nhiêu hạt bắp, hạt đậu sẽ nứt mầm, nẩy lộc. Rẫy vườn ngày đó cây lá từng vươn cao giúp nên mạch sống cho một gia đình trên vùng đất khó./.

edition by ĐHL 
10.12.2023 USA

Saturday, January 10, 2026

KỶ VẬT CẬU TRAO


 cậu tác giả -Võ Bình- những năm mới vượt biên qua Mỹ (1980)

Lời thưa trước
    Có thời gian thầy Nguyễn Bảo dạy trung học đệ nhất cấp Gio Linh, thầy nói hai học trò Võ Bình và Trần thị Kim Thược là hai học trò 'cưng' của Thầy. Sau này lại nên duyên vợ chồng nhưng mợ Thược tôi mất sớm (1971)

Tưởng nhớ  cậu tôi VÕ BÌNH (1947 -2003)
Đinh trọng Phúc


***

    Những ngày cuối đời cậu tôi hay ngồi im lìm trước bức hình bán thân của ông chụp lần cuối cùng. Có thể đây là bức hình ông vừa ý nhất hay chăng? Linh tính báo cho cậu tôi sắp ra đi vì chứng ung thư quái ác?

    Gia đình tôi và cậu mợ cách nhau không xa chỉ hai ba con đường trong vùng bắc thành phố San Jose tiếp giáp với Milpitas.

    Bà xã tôi hay nấu bún bò Huế, cháo gà, muớp non xào gan gà những thức ăn Quảng Trị mà cậu thich, xong đem qua cho ông. Tội nghiệp vào những ngày cuối cùng, cậu nói thèm món mướp thơm xào với gan gà nên  vợ tôi vội vàng nấu xong tất tả đem qua nhà cậu. Cơn đau ung thư lại lên, cổ họng đau quá cậu tôi nuốt không được đành buông đũa...

    Mỗi lần qua nhà, đứa cháu thấy cậu hay ngồi trầm ngâm nhìn lại những đồ vật lưu niệm. Có khi cậu ngồi yên lặng lắng nghe những băng nhạc hoà tấu bầu tranh sáo, những khúc xưa như Làng Tôi, Thiên Thai, Tiếng Xưa ...

    Một lần thấy tôi qua, đang dán thuốc dán Salonpas đầy lưng, người cậu đứng dậy lấy cho tôi cái tượng thằng bé con nho nhỏ.


Con trai chúng tôi đi học  từ Stanford cho tới Harvard -đi đâu cũng âm thầm mang theo cái tượng nhỏ thằng bé học bài của cậu tôi tặng. Hình nhân đứa bé đó  vẫn luôn được cháu đặt nằm trên giá sách tại ký túc xá Đại Học Y Khoa Harvard 


    Cái hình nhân thằng bé con đúc bằng đất, to na ná bằng nửa bàn tay. Thằng bé đầu để tóc theo kiểu "chú tiểu đồng" ngày xưa. Mắt đeo kiếng lơ là trước cuốn sách đang học. Trước mắt tôi, cái đầu chú tiểu này sao tròn trịa dễ thương làm sao. Có một điều tuy là nằm trước cuốn sách nhưng nó vểnh mặt không chăm chú nhìn vào sách. Dáng điệu lơ đểnh, hay cậu ta chê bài vở nhiều quá khó học chăng?

    -Con đem về cho con trai con nghe?


 Khó diễn tả ý nghĩa dáng điệu cậu bé bằng đất này? Dù sao một ý nghĩa mà cậu tôi gửi gấm qua đây là:


NHỎ PHẢI CHĂM HỌC ĐỂ MAI MỐT NÊN NGƯỜI


bức hình Cậu  chụp cho con trai thứ hai của v/c tôi Đinh trọng Trữ Khang lúc mới qua Mỹ 1 năm  tức là năm 1996 (China Town -San Francisco) 

    Tôi hiểu tấm lòng cậu tôi do người hay tâm sự:

"con cháu  chúng ta qua được nước Mỹ này phải dấn thân vào con đường học vấn trước tiên, đổ đạt thành tài rồi mới đi làm lo chuyện tiền bạc là sau ..."

    Rõ ràng ước mong khoa bảng của người Quảng Trị vẫn bàng bạc trong những lời nói của cậu tôi lúc chưa mang trọng bệnh. Người QT, địa danh QT ngày xưa có thể sinh ra từ vùng đất khổ nên ý chí vươn lên và khoa bảng đã có. Ước muốn của cậu làm tôi nhớ lại hình ảnh lúc tôi còn nhỏ tại QT...chỉ một khóa thi Trung Học (diplome) tại trường Trung Học Nguyễn Hoàng thôi nhưng cả xóm đã bỏ công ăn việc làm đổ xô háo hức ra chờ đợi. Tiếng reo hò của bà con trong xóm khi nghe tin có người trong thôn đổ đạt. Hình ảnh người anh cậu tôi, tức là cậu Võ Tự Bé, còn ở trần lật đật chạy ra nghe tin thi của mình. Cậu Võ tự Bé ưỡn người lên lấy tờ giấy thật to làm cái kèn thổi "tò tì te" vui làm sao khi nghe ai đó nói tên mình trúng tuyển. Tiếng cười vui, hỏi han nhốn nháo của đông bà con trong xóm đang đứng lóng nhóng đầy cả con đường Ngự chạy thẳng ra đồng... 

Thời gian dần trôi, các cậu lần lượt lên đường tòng chinh theo tiếng gọi của nghĩa vụ làm trai. Đến thời cháu con tức là người viết cũng thế. Tôi không quên hình ảnh rộn ràng của bà con người nhà, xóm làng lao xao về chuyện thi cử. To lớn gì cho cam? chỉ trúng tuyển vào lớp đệ thất trường Trung Học Nguyễn Hoàng thôi, thế mà xóm tôi nhốn nháo, từ đầu thôn Đệ Tứ xuống tận Góc Bầu rộn ràng cả lên. Hình ảnh đợi chờ của bà con thân yêu ngày xưa đó, tất cả ngóng tin những người chạy lên Trường Nguyễn Hoàng coi bảng... Người vui kẻ buồn, tiếng bàn tán xôn xao ngoài con đường Lê văn DUYỆT sâu vào con đường kiệt chạy lui tận ngoài ruộng...Tất cả gom lại trong ký ức đứa cháu này một dấu ấn khắc khi trong tâm khảm. Nhớ để khẳng định rằng con người miền trung nhất là Quảng Trị rất hiếu học và trọng thi cử và có thể tạm gọi là "khoa bảng" cũng chẳng ngoa chút nào!

                                ***

Ngày cuối cùng cậu tôi không lựa cái gì trong cái tủ gương để trao cho cháu mình mà là cái hình nhân cậu bé đang nằm trước cuốn sách?

Tôi trân trọng ý muốn của cậu mình và trao nó lại cho con trai cùng không quên ghi dưới đáy chân đế dòng chữ:

"Quà của Ông, con cố gắng chăm học"

(The gift from Great Uncle- try the best for studying)

Hơn một tuần sau cậu tôi từ giã cõi đời tại Bệnh Viện Alexandre Brothers thành phố San Jose.

    Xong đám cậu tôi nhưng tôi không quên lời dặn của cậu mình là đem cho con trai tôi cái hình nhân đứa bé bằng đá này. Tôi không quên dặn dò con trai thứ hai của tôi là nghe lời Ông dạy rằng "gắng chăm học đừng  lưòi như thằng bé này con nghe?"

Thời gian âm thầm trôi qua.

Một điều tôi không ngờ con trai tôi lặng lẽ cất giữ cái tượng kỷ vật này. Con tôi đi học đâu cũng mang theo bên người.

    Tôi lên thăm con trong niên khoá nhập học đầu tiên năm 2006 tại Trường Đại Học Stanford cũng thấy 'thằng bé biếng học' nằm một góc bên kệ sách của con.





ký túc xá Đại Học Y Khoa Harvard / 107 Avenues Louis Pasteur/ Boston MA



    Đúng mười năm sau khi cậu tôi qua đời, năm 2013, hai vợ chồng tôi may mắn có cơ hội bay qua Boston thăm con trai đang tiếp tục học tại đại học Y Khoa Harvard. Một điều thực sự làm tôi xúc động khi thấy cái tượng nhỏ thằng bé học bài của cậu tôi vẫn nằm trên giá sách của con.

    Rõ ràng con trai chúng tôi âm thầm cảm nhận và quyết tâm nghe lời dạy tuy gián tiếp của cha ông. Tôi còn nghiệm ra: tuổi trẻ lớn lên tại Mỹ làm nhiều hơn nói.

    Cái tượng nho nhỏ của cậu tôi đi theo con trai tôi với những nấc thang đại học cho đến lúc thành tài. Tôi tin rằng đây  là một sức bật nhiệm mầu của một tình thương, hoài bão, của cậu tôi đối với con cháu.

cái tượng nhỏ thằng bé học bài của cậu tôi vẫn nằm trên giá sách

    Người Quảng Trị phiêu du tận chân trời góc bể nhưng không bao giờ quên vươn lên, vượt qua bao khó nhọc để đi đến thành công./.

          Đinh Trọng Trữ Khang ngày ra trường chụp với mẹ cha 


 22/5/2017

edit 19/3/2023 San Jose USA

Đinh trọng Phúc 
tái biên 10/1/2025 San Jose USA

Tuesday, January 6, 2026

NỖI LÒNG TRẦN QUẢNG LƯỢNG 5

 



Lúa làng Quảng Lượng 2012




KHÓC MẸ





CẢNH BÁN THAN 



ĐẦU TRỜI QUÊ HƯƠNG 




bà con Quảng Lượng


TẾT LÀNG TA 



CHỞ CON ĐI THI

 

NGÀY ĐẦU QUA MỸ




Chiếc xe wagon buick 'cà tàng' của tôi theo Freeway 101 đi quá phi trường San Francisco một đoạn rồi quẹo phải. Mừng quá, trung tâm  đứa con trai thứ của tôi nhờ ba nó chở đi thi, giờ này đã tới đúng địa chỉ rồi.


chiếc xe wagon đầu tiên trong gia đình

Mới qua Mỹ, mua được chiếc xe đầu tiên, tôi phải "ký cóp" trả góp tới mấy tháng. Tuy là xe cũ nhưng tôi cảm thấy mãn nguyện do đây là lần đầu tiên tôi có xe. Kể ra cũng 'hách'  thiệt. Tôi có thể tự mình hãnh diện hay cho cuộc đời nay đã "lên hương". 




Nói chi thì nói, xe hơi ở xứ người ta chỉ là phương tiện thôi. Tuy vậy, đối với tôi quả là một chặng "đổi đời" quan trọng. Có xe thì phải có bằng lái. Tôi có được giấy phép lái xe hay thẻ ID cũng "trầy da tróc vảy" do tôi thi tới ba lần mới nhận được cái bằng. Ai mà cho tôi đậu ngay, nhất là một người như tôi chưa bao giờ cầm cái vô-lăng? Tới nước Mỹ, tiếng Anh tôi nói nghe sao 'trọ trẹ'. Vào lần thi thứ hai, bà giám khảo người Mỹ phải "hoảng hồn" vội "kéo" vội tay lái qua lại do tôi đổi làn xe  quá ẩu. Cái lỗi 'to đùng' nên tôi phải thi lần 3 mới đậu. Có thi mấy lần chăng nữa tôi phải đậu bằng lái xe. Cả nhà tôi, nhất là năm đứa con tôi đang cần tay lái ba nó. Trước là đi làm, rồi chở con đi học.Không quên chuyện đi khám bác sĩ, rồi ngay  cả dịp chở con đi thi hôm nay...


Tôi chỉ mong chở con tới nơi, tìm chỗ đậu xe xong là điều mừng trước nhất. Người cha như tôi chỉ mong ngần ấy thôi. Nhớ ngày đó,  đi đâu cũngd lật bản đồ in sẵn.  Thứ bản đồ này tiệm xăng nào cũng có bán; mỗi cái khoảng ba bốn đồng bạc. Tôi thầm thì, định hướng trong đầu:


- Ta theo Freway 101, lên quá Phi Trường SFO, vượt đường X rồi đến Y chẳng hạn, xong quẹo phải gặp đường Z cua trái...v v 


Tôi lẩm nhẩm trong miệng, chẳng khác gì một ông thầy pháp đang đọc "bùa chú". Thật thế, đó là cách tôi từng dò theo bản đồ chỉ dẫn cho khỏi lạc đường. Thời gian này, thật sự tôi rất sợ lạc vào thành phố San Francisco. Mới lái xe, giá như mà đi quá, lạc vào San Francisco có lẽ tôi sẽ bị "tẩu hỏa nhập ma" mất. 


Khác với thời này, đi đâu cũng nhờ vào GPS, tài xế cứ lần theo lời chỉ vẽ trong máy iphone rồi  theo nó là xong.


Thật là một  kỷ niệm đáng nhớ cho tôi. Một gia đình vừa thoát khỏi vùng kinh tế mới: đói- thiếu kinh niên, qua được xứ Mỹ; dĩ nhiên vợ chồng tôi phải mang  'tòn ten'  ước mơ học hành cho con cái trong lòng.


Chiếc xe, tuy gọi 'gà tàng',  thế mà xem lại chính nó giúp cho tôi quá nhiều. Ngoài chuyện hàng ngày đi làm hay những chuyện khác như tôi đã nói, các năm sau chiếc xe còn giúp tôi chở con đi phỏng vấn để vào đại học. Khi chúng đã vào đại học, còn chuyện cuối tuần còn bới thêm thức ăn cho con nữa...

Rồi lại hôm nay, tôi thêm một lần nữa mừng rỡ do được dịp chở con tới đúng nơi hẹn thi MCAT, đại khái là khóa thi tuyển sinh vào y khoa sau này.

Tôi mở cửa xe cho con vào, người cha ở lại bên ngoài parking. Tôi chẳng cần tính chuyện  thời gian đợi lâu hay mau, chỉ một lòng khấn nguyện ơn trên.

 Ngày tháng dần qua, tôi không quên được cảnh một người cha kiên trì ngồi đợi suốt buổi dưới parking một hãng hay văn phòng nào đó. Trên căn phòng của công ty lấy hẹn, con tôi đang được phỏng vấn. Lòng tôi cứ mãi lầm thầm khấn nguyện trời phật, ông bà phò hộ cho con mình...mấy đứa con đang được phỏng vấn vào những trường đại học hàng đầu tại đất nước này.


***


hình minh họa: vịnh San Francisco và thuyền buồm du ngoạn thể thao

Ngọn gió biển buổi xế chiều từ vịnh San Francisco khiến tôi cảm thấy mát đến lạnh người. Trung tâm thi sát vịnh nên gió biển thổi vào lồng lộng. Một mình đứng đợi con, tôi có dịp ngắm vài cánh buồm của mấy chiếc thuyền thể thao im lìm lướt sóng. Người chơi thuyền  lập lờ tới lui; tất cả đều lạ lẫm với tôi. Tiếng qua Mỹ nhưng tôi chỉ ru rú ở San Jose chẳng dám đi xa,  ngoài cái việc là LÀM TÀI XẾ CHO CON.


Năm đứa con đang trên con đường học vấn. Tài xế cho con đi học trường này đi thi nơi kia, học thêm học phụ hay làm thiện nguyện làm sao tôi có thì giờ đi đây đi đó được. 


Bao nhiêu ước mơ trong lòng, giờ đây tôi đang thấy hiển hiện. Đó là những phần thưởng làm tôi không bao giờ biết khó nhọc là gì.

***


Buổi thi hôm đó lâu thật. Trời đã về chiều mà con trai tôi chưa ra. Gió biển càng lúc càng lạnh hơn. Tôi có thể vào xe  tránh gió, nhưng tôi muốn ngắm  biển Vùng Vịnh hôm nay bước chân chúng tôi mới lưu lạc tới đây. 


quê cũ ngày hôm nay:  mũi tên hướng vườn điều và mái tranh nghèo gia đình tôi trước đây. Ngày hôm nay thời thế thay đổi, quê nhà nay thật khác xưa, có đường nhựa và cột điện lưu thông cùng tháp sóng ở phía xã Sơn Mỹ trên xa

    Từ biệt quê hương, riêng đối với tôi thì bàn tay tôi giã từ cái rìu cái búa người tiều phu ngày ngày vào rừng đốn củi để kiếm tiền độ nhật. Gia đình tôi đã thoát được một quãng đời tăm tối nơi quê nhà. Nơi quê hương mới này, rõ ràng chúng tôi làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng. 


Giã từ một quá khứ "đốt rẫy làm nương" 


     Đứng đợi con thi, tôi có thì giờ thư thả ngó ra biển. Một quá khứ lướt qua như một giấc mơ. Bao nhiêu kỷ niệm lại hiện về trong một buổi chiều. Chính lúc này đây tôi có dịp ngó lại hai bàn tay mình chợt mừng vì những vết chai sần nứt nẻ trong quá khứ gian truân bên trời quê hương nay thực sự đã hết. Đôi bàn tay của người tiều phu bất đắc dĩ ngày đó không bao giờ có thời gian để lành lặn vết thương...nay cũng chấm dứt. Tôi vẫn mãi nhớ hình ảnh cánh rừng thâm u, mịt mờ bụi khói, những ngày đốt rẫy làm nương, lạy trời giờ chẳng còn trở lại. Tôi thật sự xa rời rừng thiêng với tiếng chim kêu, vượn hú, hàng ngày một nắng hai sương, đôi bàn tay và hai vai nhức nhối. Nhớ làm sao, những nhát búa và vết nứt nẻ lòng bàn tay không có cơ hội ngơi nghỉ cho kịp lành lặn, rồi ngày mai phải tiếp tục vào rừng, tiếp tục chặt hạ, đốn củi, và lại thêm một lần trăn trở với đau đớn thịt da...


    Đất nước Hoa Kỳ từng dang tay đón nhận biết bao nhiêu thân phận và hoàn cảnh như tôi. Giờ so lại, nơi đây có gian nan cực khổ gì cũng là thiên đàng nếu so với ngày tháng cũ. Tương lai, chắc hẳn mấy con tôi có thể tự hào hay kiêu hãnh những gì chúng đạt được nơi quê hương thứ hai này. Chắc hẳn, các con tôi sẽ khó tưởng tượng ra những điều cha nó nghĩ- Hãy trân trọng một quá khứ đói nghèo, do nó là sức bật thăng hoa cho một tương lai tươi sáng.


Làn gió biển càng về chiều càng trở nên lạnh buốt khiến tôi như chợt tỉnh trở về với thực tế, vội mở cửa xe quăng mình vào trong. Đứa con trai đã thi xong. Kết quả buổi thi này sẽ quyết định  cho những sinh viên ước mơ vào con đường y khoa bác sĩ. 


Trên đường về, tôi hồi hộp chẳng dám hỏi con. Nhìn nét mặt phấn khởi của con trai tôi mừng thầm chắc nó đang có gì toại ý. Xa lộ 101 hôm nay dường như vui hơn mọi khi. Chiếc xe hôm nay chạy thật êm; hình như nó cũng biết "hòa chung" niềm vui cùng chủ. Niềm sung sướng trong lòng người cha trào dâng. Một chút gì nao nao trong lòng, khi tôi liên tưởng một tương lai nào đó thật xa có khi nào con tôi chạnh lòng nhớ đến hình ảnh hôm nay. Có thể khi đó tôi hay những lứa bạn H.O những người lính cũ nay đã đi xa về một phương trời nào đó. Một nơi không còn buồn nhớ, trăn trở của những niềm đau mất nước. Ai mà biết được./.


ĐHL Rằm tháng Tư Phật Đản 2022 

edition 11.1/2024 San Jose USA

Thursday, January 1, 2026

TÌNH QUÊ



Ngày 1 tháng 1 năm 1983

Để dễ nhớ ngày ba tôi chọn ngày tết Tây mà làm ngày đám cưới cho hai đứa chúng tôi vì thế cứ mồng một đầu năm vừa là ngày tết và cũng là kỷ niệm ngày vui của Túy Huệ và Trọng Phúc.

Ngày đó, rất lâu tôi mới nghe lại tiếng pháo, thôn xóm Động đền như rộn rã theo tiếng pháo cưới của hai bên.


nhà trai đi họ, chú Lý đi trước, sau Phúc lần lượt là: Dũng (con bác Mãn ), nguyễn khắc Hiến phụ rể cho Phúc, anh Thuận (đội nón đi sau), Xiềng ( bạn trong xóm, quê Bình Long)


Tôi và nàng thành với hai bàn tay trắng; trắng tay rất đúng nghĩa của nó. Khi về với vùng Động đền sáng rừng, chiều rẫy ‘đầu tắt mặt tối’ có cái bỏ bụng là may lắm rồi nhưng nhân duyên tiền định, về lại Hàm tân tôi lại gặp được nàng.

Tình đồng môn Nguyễn Hoàng (vì xưa chúng tôi đều là học sinh Quảng trị)càng thắm thiết thêm tình chồng nghĩa vợ. Khi tôi chưa về, thường khi nàng qua nhà chơi với hai cô em gái tôi mà sau này cùng là dân sư phạm Phan thiết cả, Ba tôi hay hỏi nửa đùa nửa thật:

Mai mốt thằng Phúc ‘cải tạo’ về, Huệ con làm dâu bác nghe?” nàng gật đầu lấy lệ cho vui, ai dè sau này lại thành sự thật.


song thân bái yết Gia Tiên

bên bàn thờ nhà gái 1.1.1983 


Tôi còn nhớ những ngày mơí về lại với gia đình, ngày tháng trôi qua nhanh lôi thôi, lếch thếch mịt mù bên nương rẫy chẳng còn biết "trời trăng mây nước" gì nữa! thế mà ‘đùng’ một cái, ba nàng với ba tôi hai người hay hàn huyên chén tạc chén thù, quyết hứa với nhau rằng nàng và tôi phải nên duyên cầm sắt.

Tôi nghèo mà lại gặp may, đường tình duyên khi đă đến thì không có gì trở ngại. Tôi được ba má nàng thương lại có được mấy em nàng ủng hộ tôi hết mình. Tôi không hiểu sao, hình như đây là tơ duyên tiền định ! Khi hai đứa mới gặp nhau tôi qua lại nhà nàng tôi rất tự nhiên chẳng khác chi "con rể" từ lâu rồi.

Người viết nhớ làm sao một hình ảnh khá "ngây ngô" - ngày đó vừa ra tù về bên mái nhà tranh (1980), vườn sau nhà ba mạ tôi chỉ có giàn bầu là giá trị. Giàn bầu đầu mùa vừa có một trái lớn nhất tôi không ngần ngại hái ngay quả bầu "to đùng" qua tặng nhà nàng. Ba mẹ nàng chắc cũng cảm thông cho tôi nghèo mà lòng thành nên khá cảm động. Em út nhà vợ tương lai cứ kể mà tủm tỉm cười hoài? Quả thật, nghĩ lại tôi thấy có cái gì đó thật ngô nghê làm sao?! Rồi người viết có lúc lại suy cho cùng hình ảnh một ngày xưa, người tù binh trở về bên mái nhà tranh; gia tài tôi chẳng có chi ngoài hai bàn tay chai đá "phồng rộp lên theo chuyện rẫy rừng, một tương lai mờ mịt. Rồi người dân thôn xóm nhìn quanh ai cũng nghèo cũng khổ, có hơn gì người viết này đâu? Số tôi may mắn được người thương,  đó là khi cần lợp nhà -sửa cửa đều có mặt tôi. Nhạc phụ tương lai hay ân cần chỉ bảo giúp con rể từng đường mây sợi lạt.

Khi hai đứa chưa là vợ chồng, nàng dạy học ở Tân Thắng, một xã đa số là người Chăm. Vùng đó mấy ông công an biên phòng rất đỗi ngạc nhiên tại sao nàng dám ‘to gan’ làm quen với một tên ‘phạm’ nàng cũng chỉ cười không nói.

Hai đứa chúng tôi gặp nhau biết thông cảm nhau với tháng ngày hoạn nạn nên nàng với tôi vững tâm nắm tay nhau đi chung một nẻo đường đời.

Làm sao tôi quên được tấm lòng chí thiết của bạn bè từng gắn bó giúp đỡ hai đứa tôi cho ngày cưới. Thuở đó mấy cô bạn giáo viên nhọc nhằn dạy học ’thời bao cấp’ mỗi tháng chỉ có vài chục bạc, thêm vài "lạng đường, ít lạng mỡ" ưu tiên cho cái nghề nhà giáo, thế mà tất cả không ai bảo ai đều nhịn đi "tiêu chuấn" đó lại cho ngày cưới của Phúc và Huệ.


Chiều mồng một Tết Tây, đưa dâu vô ngõ nhà trai, lối cỏ gập ghềnh (anh Thuận, chị Lành, Hồng, Chị Hào, chị Ẩn, Hùng con cậu Kiêm, Cậu Lâm, Cô Dâu, và phụ dâu Trúc. Liên, chị Xíu em con cậu Kiêm..

Chiều tối với bạn bè bên nhà trai

Đêm trước ngày cưới thật vui, rộn ràng nhất là bên nhà gái vì mấy nàng thức suốt đêm cùng phụ giúp cắt giấy trang hoàng hay nấu nướng, ai nấy nói cười huyên náo, làm cả xóm cũng vui lây nhất là mấy đứa nhỏ tò-mò qua xem quá nửa đêm cũng không chịu về nhà. Vùng Động đền- Tân Sơn nơi chúng tôi ở có nhóm cựu học sinh Nguyễn Hoàng đều cùng trang lứa như TUÝ HIẾN ĐƯỜNG THẮNG NHÀN HẢI các cô giáo TRÚC LIÊN …tất cả đều có mặt trong cái đêm đầy ắp tình nghĩa bạn bè. Những lúc cơ hàn đều bên nhau , san sẻ cho nhau những gì thiếu thốn chật vật. Đăc biệt nhất là Hiến người bạn được hai đứa tôi ‘chấm’ cho đi phụ rễ.

Áo quần nàng dâu thì may thay dưới phố Lagi bắt đầu có phong trào cho thuê áo quần cô dâu rồi. Pháo thì Đà Nẵng bắt đầu vô chào hàng tại Hàm tân. Phía nhà trai, người viết nhớ lại bạn Hiến  đang ở trên xã Tân Sơn và quá lo lắng do không biết chạy đâu cho ra bộ vét? Hiến tất tả mấy ngày tìm kiếm khắp thôn trên Sơn Mỹ mới mượn được một cái VÉT, nhưng Hiến lo do quần áo lại khác màu. 

Tôi an ủi Hiến:

        -Demi-saison thì cần chi là đồng màu Hiến nờ!


Hiến than không mượn ra ‘cravat’, tôi làm ra vẽ rành rọt:

        -Demi-sai son thì không cần cravat mô!

Thế là xong. 

Còn phụ rể Dũng, hàng xóm với ba mạ tôi thì có được một bộ vét đen hoàn chỉnh.

Người viết không quên nhắc bạn đọc xem lại hình mấy cái quần hơi loe rộng phần dưới; rõ ràng đó là mốt ngoài Đà Nẵng trước 1972 đem vô theo cả. Người QT di dân vào Bình Tuy đem theo áo quần vét đó. Vào xứ Động Đền thì người dân mình lại gặp 1975 cơm không đủ ăn, ngày ngày làm bạn với rẫy rừng lấy đâu mà "vét"? 

Đến ngày hai đứa chúng tôi cưới nhau, tự nhiên nảy sinh ra mốt cũ. Có nghĩa tìm cách làm lại hình ảnh ngày xưa. Mặc dù hình ảnh "huy hoàng" kia không kéo dài lâu. Đám cưới xong là đi trả lại áo quần, và cuộc đời sẽ trở lại với thời gian gian khó trước mắt như một số phận đã định phần?


2 phụ rể: Dũng bộ vét đen bên trái hình, Hiến demi saison bên phải
tôi gặp may do Bộ vét của anh Diệu may từ trước mốt 1972 ngoài Đà Nẵng đem vào Động Đền, cả đôi giày của anh người viết cũng mang vừa 
Tôi lại gặp may cài áo thụng xanh cho chàng rể lạy từ đường cũng mượn được từ bác Tố trưởng ban trị sự tế lễ xuân thu nhị kỳ trong thôn

Tôi khuyên bạn vậy nhưng phần tôi thì chẳng hơn chi!? chạy mấy ngày từ đầu cho đến cuối xã Tân Thiện tôi mới mượn ra được một bộ ‘vét’ của ông anh tên Diệu. Anh Diệu người cao và người viết lại gặp may do người không thấp nên bận vừa và đẹp. Rõ ràng về bận vào ngày cưới quả bộ vét tôi mượn đồng màu lại vừa chiều cao vô cùng. Còn phải tìm kiếm mượn cho ra giày và cravat nữa! cuối cùng tôi cũng có đủ. Thời buổi đó dân mình chỉ cần một ngày hai buổi ăn no là mừng lắm rồi, có ai còn giữ lại những thứ ‘xa xỉ’ đó làm chi. Tội nghiệp anh Diệu bốn mươi ba năm rồi không biết nay anh còn hay mất, lưu lạc phương nao?( 1983-2026)

Dù sao đi nữa, sáng đi họ qua nhà gái đứa nào nhìn cũng oai ra "phét" lắm, có thua gì ngày trước đâu!

Thế là nhờ vào sự đồng cảm giữa nhà gái và nhà trai, thêm vào tình cảm chân thành của bạn bè đã làm cho ngày cưới hai đứa lần đầu tiên trở lại hình ảnh như trước: cô dâu hai ba thứ áo quần, đi họ và rước dâu có pháo nổ đì-đùng, thứ pháo tống đầu tiên người buôn từ Đà nẵng mời vào chào hàng ở Hàm tân dạo đó. Thật đúng lúc do trong thôn ngày đầu tiên mới có pháo nổ. Họ hàng, khách khứa, và bạn bè ai cũng vui, cũng sung sướng tay bắt mặt mừng, tất cả đều như trải cả tấm lòng ra mà vui cho trọn vẹn một ngày vì sáng mai sẽ tiếp tục tay cuốc tay rìu nơi vùng nương rẫy.

Sau ngày đám cưới thì vợ tôi được đổi về dạy học ở Tân sơn, vì gần nhà nên vợ tôi sáng đi chiều về. Đến khi hai vợ chồng có cu tý đầu lòng phải bồng trống nhau lên tạm trú ở Tân sơn cho vợ tôi tiện bề dạy học. mấy ngôi trường ở Tân sơn sót lại từ thời người dân Quảng trị đi di dân lập ấp năm 1973 lúc này đa số đã hư nát. Hai vợ chồng và "CU RY" đứa con đầu lòng được tạm trú ngay ngôi trường vợ tôi dạy . Căn phòng đó sụp đổ hơn một nửa, chi chít vết đạn giao tranh. Phía vách ngoài cùng trống toang hoác tôi che lại bằng lá buông, cũng chống được nắng mưa, kín gió cho con trai đầu lòng.





Bé Bi 1 tuổi chào đời tại
Ngôi trường rách nát Sơn Mỹ
21/2/1985


Ngày ngày tôi moi móc số đất bạc màu quanh trường, gánh bổi vun vồng làm ra khoai ,bắp cho vợ tôi đi bán tận chợ huyện La Gi. Vợ tôi còn phải dạy học, tuy vất vả nhưng nàng cũng tạm yên lòng.

Ngày tháng dần trôi, con cái tiếp tục ra đời tại ngôi trường cũ nát này. Khi chống cuốc nghĩ đến những ngày đầu hai vợ chồng tay bồng tay bế đứa con lên tận vùng này , gia tài vốn liếng chỉ một con gà mái ngoại cho, một chiếc xe đạp thồ vay nợ mới có. Giờ đây con cái bắt đầu đông khiến tôi nghĩ đến chuyện phải xin cho được một chân lao công vừa giữ trường nơi tôi cư trú vừa có "tiêu chuẩn" gạo ăn. Tôi bàn với vợ đánh bạo trình lên hiệu trưởng Trần như Hải.


Gia đình tôi tạm trú qua ngày dưới mái trường quê Sơn Mỹ cũ nát này (xây dựng thời di dân lập ấp 1973- vợ tôi đang chụp hình chung với học trò lớp 3 ( niên khóa 1982-1983).


Một ngày có tin hiệu trưởng Hải cần gặp tôi tại văn phòng trường chính đóng tại xã Cam Mỹ cũ. Mừng quá tôi vứt cuốc tất tả đạp chiếc xe đạp thồ chạy đến găp Hải ngay. Thấy tôi đã đến, hiệu trưởng Hải kêu tôi gặp riêng trong văn phòng. Tôi vừa ái ngại vì áo quần còn ướt đẫm mồ hôi cùng hồi hôp ngồi đối diện với Hải.

Tôi thầm nghĩ, “nếu mình làm được phu trường, mỗi tháng sẽ có 10 ký gạo cộng thêm tiêu chuẩn của vợ mình nữa cũng hơn 20 ký, cả nhà mình –thằng Ry, bé Bi, thằng Ky tha hồ ăn cơm trắng khỏi độn, rồi sẽ có thêm 2 lít dầu thắp, nếu hên không chừng có thêm tiêu chuẩn thịt nữa…”!

tiếng Hải đằng hắng đưa tôi về thực tại:

-Anh Phúc à, mấy lâu ni em cũng thấy anh tạm trú ở trường và bảo quản trường rất tốt…

Hải xưng em vì Hải nhỏ hơn tôi mấy tuổi, hơn nữa Hải cũng quen biết với mấy đứa em gái của cả hai vợ chồng tôi.

Hiệu trưởng Hải tiếp tục:

-…em có đề nghị với Phòng giáo dục nhiều lần là Trường cần có một người bảo vệ cho cơ sở vật chất hết mấy phân hiệu, nhưng anh Phúc à..

Tiếng Hải chợt chùng xuống:

-…em quyết tâm đề nghị anh, nhưng phòng lưu ý về phần lý lịch của anh, họ hứa sẽ rà xét lại sau nghe!

Thế là hết! tôi buồn bã chào Hải ra về. Mới hôm kia hai vợ chồng bàn bàn tính tính…chừ thì..bầt giác tôi thở dài. Đường về nhà như dài ra, chiếc xe đạp thồ như nặng thêm chân tôi cơ hồ không còn đạp nổi!

***

Vùng tôi ở dân trồng nhiều cây sắn (người Nam gọi là mỳ) từ thứ nông phẩm này hai vợ chồng mới nghĩ ra một nghề mới nghề chiên bánh ‘thèo-lèo’ đi bỏ mối. Thế là dọc con đường gió bụi của tỉnh lộ 23: Tân thắng, Bình châu, Bông trang, Bà-tô, nông trường Hòa bình rồi tôi vượt sông La-ngà qua tận Xuân Sơn, Bình giã , Ngãi giao, không một quán nào vắng bóng những chiếc túi ny-lon đựng bánh thèo-lèo chiên, xanh xanh đo đỏ tất cả đều từ bàn tay khéo léo của vợ tôi làm ra cả.




thiếu phụ 2 con
(1986)
















ngày tết 1987 hai cháu từ Tân Sơn về Cam Bình thăm mái tranh nhà cậu Trần văn Hào (nhà thơ Trần quảng Lượng) cũng mới tù Cải Tạo về 


Một chuyến tôi đạp xe đi bán mất ít nhất là 2 ngày. Lên Xuân Sơn tôi ở lại nhà cậu tôi, cậu tôi (Võ đình Cư) sau khi về địa phương làm nghề thợ rèn .Tuy cậu tôi vất vã nhưng đắt khách lắm. Núi rừng Xuân Sơn đang bị ‘bạch hóa’ chạy theo khoai sắn, người dân đang cần nhiều cuốc rựa cậu tôi làm không hết việc.

Tôi sung sướng nhất là những khi bán hết hàng. Bán hết hàng , chuyện này làm cho tôi quên hết cái khổ nạn của đoạn đường về nhà gần 70 cây số. Con đường đất đỏ trên chặng Bà Tô, Hòa Bình hay dưới tôi thì lún cát. Gặp mùa gió chướng phải ráng mà đạp chiếc xe thô kệch nặng nề, phía sau còn đèo một ‘cần xế’ to tướng như một cánh buồm cản ngọn gió ngoài Trung thổi vô. Tôi gò lưng lại, mim môi nghiến răng cố sức đạp. Chiếc xe trước ngọn gió quái ác cứ chầm chậm nhích từng mét một. Gió mạnh đến nỗi có khi chiếc xe thồ "thân yêu " của tôi tưởng chừng ĐỨNG yên lại !
Mỗi chuyến đi bán bánh ram (tức là thèo lèo chiên ) về lại trường cái áo công nhân xanh tôi bạc phếch và khô cứng đi vì lớp mồ hôi MUỐI ướt đẩm theo mấy mươi cây số đường trường ngược gió.











2 cháu Ri và Bi về thăm 2 cậu Lu và Lô
(tết 1987 nhà Ngoại Động đền) tội nghiệp hai người cậu nay đã là người thiên cổ


Nghề bánh này một thời gian cũng chẳng còn ai ưa chuộng ,tôi quyết định ở nhà tìm rừng đốt than, làm rẫy.

Hết cảnh khom lưng đạp chiếc xe thồ rong ruổi trên con đường thiên lý tôi lại vào núi chặt hạ cây rừng. Đất Bình tuy thuở này người dân tha hồ đốt phá để tạo ra nương khoai ruộng mía giải quyết sự đòi hỏi của bao tử. Tôi cũng thế từ sáng sớm tinh mơ đã vác búa vô rừng làm bạn với khe với suối, nghe tiếng con công kêu ban sáng hay lũ bìm bịp báo hiệu chiều về. Có đôi khi tôi tưởng như mình là anh chàng ‘Thạch Sanh bất đắc chí’ hay là ‘anh hùng mạt vận vào rừng đốt than’.


 Nhớ lúc chặt hạ cây rừng Tân Sơn Hàm Tân, khi một cây to ngã gục tôi khoan khoái tự thưởng cho mình một điếu thuốc ‘rê’ to tướng. Vừa phì-phà điếu thuốc vừa ngắm mây trời bảng lảng...Biển Thái Bình ngoài xa tít, chân trời kia là thế giới khác và ngọn sóng biển quái ác từng nhận chìm bao con tàu đi tìm cái thế giới đó, sóng đã tấp vào bờ bao xác người vô thừa nhận.
Mùa khô , khi nghỉ làm rẫy tôi còn một nghề đó là tiều phu vào rừng kiếm củi bán mua gạo. Thời này một xe củi giúp tôi đổi được nửa thúng lúa, đó là giá trị cho bạn đọc dễ dàng so sánh. Tiều phu thời đó cũng là thời có chiếc xe đạp thồ ra đời. Xe đạp thồ vừa đi buôn rong ruổi đường xa (thời gian tôi đi bán bánh thèo lèo) và nay là vào rừng chặt cây làm rẫy hay đi làm củi.  Đó là chiếc xe đa dụng một thời của "vùng Ba Chiến Thuật" này chắc người lớn tại Long Khánh, Thuận Hải, Đồng Nai, Bà Rịa ắt hẳn còn nhớ . BỘ giàn của nó bằng ống nước, vành xe bằng nắp ống cống kim loại một thời quân đội VNCH dùng, hợp kim này rất nặng , tăm xe cũng bằng sắt nên tổng lại nặng nề . Chiếc xe đạp thồ dang dụng nó là phương tiện vận tải nông phẩm cho nghề làm rẫy khi con bò kéo là dạng "phú ông" thời đó. Ngoài rẫy rừng ra, chiếc xe đạp thồ còn là phương tiện di chuyển hay đúng ra là "buôn bán" đường xa. Kỷ niệm tháng ngày như phần viết trên, người viết từng gò lưng đạp "con ngựa thồ sắt"  nặng nhọc theo con đường đất đỏ Hàm tân- Bình Châu- Bà Tô xong tôi hay quẹo phải hướng lên Nông trường cao su Hòa Bình, rồi xuống bến đò Xuân Sơn. Cái bến đò thật cheo leo nằm dưới sâu do cái cầu xưa không còn nữa. Đường mưa lầy lội, xe bò kéo gỗ đủ thứ làm con dốc hẹp lại trơn trợt hơn. Tôi phải gắng sức ghì cái cần xế đầy hàng sau xe. Hai bên ghi đông còn tòn ten thêm hai giỏ hàng nữa. Xuống bến đò, đâu phải lặng êm cho mình. Con sông nhỏ nước chảy mạnh, tôi phải tháo hàng đưa lên đò đang chòng chành rồi lại chiếc xe thồ nặng chịch. Đất đỏ dốc trơn nước chảy mạnh những khi trời mưa. Qua con sông nhỏ có tên sông Rây đó, tôi lại tiếp tục cột hàng lên xe đẩy lên dốc bên kia thế là lên đến thôn Xuân Sơn có gia đình bà con cậu mợ tôi trên đó. Có khi tôi đạp xe lên tận Bình Giã, Ngãi giao. Con đường đất đỏ càng lúc càng trở thành con đường "thân quen" cho bao chiếc xe đạp thồ đa dụng trong đó có người viết một thời gò lưng rong ruổi mưu cầu sự sống...

Tôi trở về thực tại là mình đang ở trong rừng. Bất giác tôi thở dài cầm lại cây rựa tiếp tục chặt cây, lòng tự nhủ, “mình gắng thêm chút nữa để mau về nhà kẻo vợ con đang đợi”./.

Đinh trọng Phúc
tái edit 
1/1/2026 San Jose USA





LƯU BÚT NGÀY XANH

  Theo năm tháng hoài mong thư gửi đi mấy lần đợi hồi âm chưa thấy em ơi nhớ rằng đây còn có anh đêm ngày hằng thương nhớ vơi đầy (Châu Kỳ/ ...