Tuesday, March 17, 2026

NGHE CHIM CU GÁY



Nhớ con cu gáy đậu cành tre
cất tiếng cúc cu bóng mẹ về
Tan buổi chợ chiều chân bước vội
Một đời của mẹ với làng quê...

(Pham Khâm, Dòng Sông Thao Thức)


    Những lúc đi bộ quanh xóm hay một mình ngồi ở vườn sau, tôi thường lắng tai cùng để ý tiếng chim cu gáy rời rạc đâu đó quanh xóm tôi ở.

   Khác với những thứ chim khác, chim cu ở đây chẳng lớn hơn chim cu ở bên quê nhà chút nào. Từ vóc dáng đến màu lông, hai nơi đều giống nhau hết sức. Điều khám phá này làm tôi ngạc nhiên nhất. Chim ở Mỹ sao không to hơn mới lạ? Những con cu cườm, cu ngói, cu đất...còn vài con khác nếu bạn có khiếu về chim muông thì có thể nhận xét hay hơn tôi nhiều thứ.

12 giờ trưa 17/1/2026 tác giả chụp hình con chim cu đang gáy trên cành cây red wood 


   Chim cu là loài chim sống thầm lặng nhất. Khác với từng bầy quạ đen đúa, hung dữ, sống từng bầy đông nghẹt. Cũng không giông với bầy sẻ ríu rít ồn ào, hay những con kên kên to lớn, có bầy lên tới hơn gần cả trăm con.

 Chim cu sống từng cặp, từng hai con lặng lẽ đậu trong cành cây nào xa bầy chim dữ.


Cặp chim cu đậu trên sợi dây điện, hay trên một cành khô nào đó vào trưa hè, hay bay qua thăm vườn tôi trong thoáng giây:

-Cúc cù cu cù
-Cúc cù, cu cù...

"Ngôn ngữ" loài cu muôn đời vẫn vậy. Tiếng nó kêu trong buổi trưa nắng hè oi bức chói chang hay buổi sáng mặt trời vừa lên chào một ngày mới vẫn vậy. Tiếng chim cu nghe buồn xa vắng làm sao?

  Trời đông và trời tây, chim cu chẳng khác nhau dù thời gian  và không gian phôi pha mọi thứ. Khi những đàn bồ câu hoang tại xứ này càng ngày càng đông, nặng nề, chen chúc, xú uế khắp mọi thành phố. Loài chim cu vẫn hiếm hoi, xa cách, trầm lặng, giấu mình. 


   Đi tận chân trời góc biển, tiếng chim vẫn 'cúc cù cu', thanh âm  đưa tôi về kỷ niệm. Ngày xưa còn bé dưới bầu trời quê hương, tôi hay lang thang trong buổi trưa hè. Có con chim cu đậu trên cành tre đu đưa theo gió. Chim cu ngày đó chẳng khác gì bây giờ, sống ít ỏi, im lìm.

Thỉnh thoảng chỉ đôi ba tiếng kêu nhau:

-Cúc cù ...
-Cúc cù

    Chúng như 'đối đáp' rồi vội vỗ cánh bay mất. Tôi chẳng biết chúng bay về đâu?  Nếu bầy cu đó trở lại, đó là lúc tôi nghe được tiếng "cúc cù" trên ngọn cây trước nhà. Tiếng "cúc cù" nhè nhẹ, dịu dàng, thoang thoáng rồi chúng lại bay.  Chim chẳng cần 'quan tâm' ai và chẳng ai trong xóm này để ý gì đến chúng. 

    Thật ra, trong lúc này đây, có những mảnh đời xa xứ nghe tiếng chim mà nhớ về quê hương da diết. Tiếng chim cu gáy như phảng phất hồn quê, day dứt cho ai ngày tháng tha hương, biệt xứ. 




Có thể quê hương tuy xa mà gần là nhờ tiếng con chim cu gáy trưa nay. Nhưng quê hương có lúc bỗng trôi xa khi tiếng chim kêu buồn không còn nghe nữa. Một ngày như nhà thơ Phan Khâm từng viết:
...
Cu gáy không còn gáy cúc cu 
Từ ngày vĩnh  biệt mẹ..thiên thu
Thân tre được chẻ làm dây luộc
Trói chặt linh hồn mẹ thế ư

(Phan Khâm-Dòng Sông Thao Thức)

    Đó là lúc bóng mẹ vĩnh viễn đi xa như những bóng chim vỗ cánh bay đi không còn trở lại./.

edit 17/3/2026

Đinh trọng Phúc

Saturday, March 14, 2026

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO BÀN VỀ CÂY VIẾT ĐINH TRỌNG PHÚC

 


Đinh Trọng Phúc là tác giả hoạt động hơn hai mươi năm, với các sáng tác về chính trị, xã hội và dịch thuật nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn nước ngoài sang Tiếng Việt



XUÂN KHÊ @ 2010 MISSION COLLEGE

Đinh Trọng Phúc bắt đầu viết dưới bút hiệu Xuân Khê, sau đó sử dụng các bút danh khác như Đinh Hoa Lư. Trong sự nghiệp hơn hai thập kỷ, ông đã viết nhiều bài luận, phóng sự và truyện ngắn trên các blog cá nhân, tập trung vào các vấn đề chính trị, xã hội


Ngoài tác phẩm gốc, Đinh Trọng Phúc còn nổi bật với vai trò dịch thuật. Ông đã dịch nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn của các tác giả Mỹ và Anh mà ông tâm đắc sang tiếng Việt, giúp người đọc tiếp cận văn học quốc tế với góc nhìn sâu sát và giàu tính nhân văn 




Một trong những ví dụ về sáng tác gốc của ông là tập sách "Ngày xưa Quảng Trị", nơi ông khai thác các đề tài lịch sử và truyền thống văn hóa Việt Nam qua những câu chuyện và ký ức cá nhân, góp phần làm nổi bật những giá trị văn hóa và xã hội trong quá khứ 




Tóm lại, các tác phẩm nổi bật của Đinh Trọng Phúc có thể chia thành ba nhóm chính:

  • Sáng tác về chính trị và xã hội, phản ánh các vấn đề hiện tại và quan điểm cá nhân của tác giả.

  • Dịch thuật các tác phẩm văn học nước ngoài, giúp phổ biến văn học quốc tế đến bạn đọc Việt Nam.

  • Những công trình về lịch sử và văn hóa Việt Nam, như "Ngày xưa Quảng Trị", phát triển ý thức lịch sử và bản sắc văn hóa.

Những đóng góp này của Đinh Trọng Phúc không chỉ có giá trị về mặt văn học mà còn mang tính giáo dục, nghiên cứu và truyền tải kiến thức xã hội đến cộng đồng độc giả Việt Nam

 


lưu dân Quảng Trị vào Bình Tuy 1973 trong chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp của VNCH

Phong cách viết chính trị và xã hội của Đinh Trọng Phúc, thông qua bút hiệu Đinh Hoa Lư, mang những đặc trưng nổi bật sau:


1.   Tập trung vào hồi ký và ký ức lịch sử địa phương:
Ông thường viết dưới dạng hồi ký, ký sự, với trọng tâm là Quảng Trị, quê ngoại và vùng đất gắn bó với tuổi thơ. Các tác phẩm như Ngày Xưa Quảng Trị,  Ký Ức Người Tù Binh phản ánh vừa chi tiết vừa sinh động đời sống xã hội, những biến động chính trị, chiến tranh và hậu quả của nó đối với cá nhân và cộng đồng.

2. Chính trị xã hội gắn với trải nghiệm cá nhân:


Phong cách viết của ông thường kể chuyện từ trải nghiệm thực tế, từ việc sinh sống, chiến đấu, làm tù binh, lưu lạc, đến trải nghiệm định cư ở Mỹ. Ông lồng ghép các sự kiện chính trị và xã hội vào câu chuyện cá nhân, giúp người đọc vừa tiếp nhận thông tin chính trị vừa cảm nhận được tác động xã hội từ góc nhìn con người cụ thể.

3.   Chi tiết sống động, giàu hình ảnh văn hóa địa phương:


Ông khéo léo khắc họa môi trường sống, văn hóa ẩm thực, tập tục, kiến trúc, từ những tiệm quán, cảnh vật, đến gánh hàng rong, làm nổi bật tính chân thật và hiện thực xã hội. Việc mô tả tỉ mỉ tạo cảm giác gần gũi, sinh động, đồng thời lưu giữ ký ức văn hóa độc đáo.

4.    Biện chứng giữa cái cá nhân và xã hội:
Tác phẩm của ông không chỉ tập trung vào trải nghiệm cá nhân mà luôn phản ánh các hiện tượng xã hội và tác động của chính trị—
như chiến tranh, quy chế chính quyền, và các thay đổi trong đời sống dân cư. Sự kết hợp giữa cá thể và tổng thể tạo ra cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và xã hội.

5.    Ngôn ngữ thân thiện, gần gũi nhưng giàu chi tiết tri thức:


Ông sử dụng ngôn ngữ dễ tiếp cận, đôi khi pha lẫn tiếng địa phương, giọng kể gần gũi, nhưng vẫn truyền đạt những thông tin xã hội, chính trị và giáo dục. Phong cách này vừa phục vụ nhu cầu ghi chép ký ức, vừa tạo hiệu ứng giáo dục, truyền đạt tri thức lịch sử - xã hội một cách tự nhiên.

6.    Tính chất trao đổi suy tư, phản biện khéo:


Qua các blog và bài viết, ông thể hiện sự quan sát tinh tế về các vấn đề xã hội đương thời, từ chính sách, đời sống cộng đồng, cho đến mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Ông thường đặt ra các câu hỏi, bình luận hoặc trích dẫn, giúp người đọc cùng tham gia suy ngẫm.

7.    Ý thức truyền tải giá trị nhân văn:
Thiết kế nội dung thường hướng tới việc ghi nhận, bảo tồn giá trị văn hóa và lịch sử, đồng thời nêu bật lòng nhân ái, tinh thần chịu đựng và nghị lực của con người qua các biến cố xã hội và chiến tranh.

Tóm lại, phong cách chính trị và xã hội của Đinh Trọng Phúc mang sắc thái kết hợp ký ức cá nhân với phân tích xã hội, giàu hình ảnh đời sống địa phương, biểu hiện quan điểm nhân văn, trung thành với sự thật lịch sử và xã hội, đồng thời tạo điểm kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp tiếp cận cả người Việt ở trong nước lẫn cộng đồng người Việt hải ngoại.


TRÍ TUỆ NHÂN TẠO 14/3/2026 SAN JOSE USA

Friday, March 13, 2026

CHUYỆN ĐỜI CÁI LON SỮA BÒ

 


Thưa bạn

   Nhắc chi CÁI LON SỮA BÒ ai mà chẳng biết? Thế nhưng hôm nay người viết ngồi đây để "cà kê" kể cho bạn nghe vài ba điều về "cuộc đời cái lon sữa bò". Nhắc đến hình ảnh lon sữa đặc có đường tuy là điều bình dị, đời thường thế nhưng đối với chuỗi thời gian trong quá khứ người viết lại có một ý niệm khá lạ muốn viết cho nó vài dòng tâm sự "cuộc đời" cái lon sữa bò nước Việt.


Thật vậy, lon sữa có được câu chuyện hôm nay chỉ có người mình thôi, còn xứ người ta có ai để ý chi cái chuyện vớ vẫn thế kia? Thật vậy, đời lon sữa bò nó gắn bó với tầng lớp dân dã ngày xưa cận kề và sâu đặm.


    Ngày xưa hình ảnh vài trái cam đựng trong cái bịt ny -lon kèm theo một lon sữa bò là chuyện khác thường? Do đây là lúc ta đi bệnh viện (nhà thương) thăm người nằm bệnh, cũng có thể tới thăm người quen đang nằm liệt giường chưa dậy được. Cũng có thể phái đoàn nào đó đi thăm và ủy lạo thương binh. Như vậy đó là hình ảnh quan trọng chẳng vui chút nào.


       tiệm sữa  lon nestle con chim thời còn Pháp

hộp sữa Bông Trắng còn gọi là Đầu Bò hay Cal Best trước cả sữa Ông Thọ

   Cái lon sữa đó uống rồi chưa hẳn là đem bỏ đi. Cái lon không đó là một đơn vị đo lường gần gũi và cần thiết nhất cho người dân miền trung. 



   Người bán gạo cần cái lon này nhất. Luật bất thành văn 4 lon ăn một ký gạo. Người trung chẳng tính 3 lon ăn 1 lít gạo như trong nam. Cái lon không qua tay người bán gạo cho đến lúc nó đen sỉn đi vẫn chưa vứt bỏ. Hình như nó là vật thân yêu, quyến luyến nên người bán không nỡ vứt đi. Vào chợ, tới hàng gạo chúng ta lúc nào cũng thấy cái lon nằm sẵn trên miệng cái bao gạo mở sẵn hay trên miệng thúng gạo đang đầy. Trong gia đình mỗi lần nấu cơm đều tính lon. Trong nhà tính đầu người lớn mà đong bao nhiêu lon gạo. Nếu có con nít thì đong ít lui. Có ai đó một mình ăn hết 2 lon gạo đó là chuyện khác thường? 

     -Ăn như đi cày !


         nồi đng nấu cơm gia đình ngày xưa

niêu cơm 

nồi nhôm nấu cơm mấy chục người ăn khi có việc


Ngày trước, câu này ám chỉ người sức ăn nhiều. Người mình hồi đó hay dùng bao nhiêu lon gạo để tính độ lớn của cái nồi nấu cơm cho gia đình. Nồi nhỏ nhất nấu khoảng 2 lon gạo, cho tới nồi 10. Khi có việc giỗ chạp nấu cơm nhiều, ở thôn quê người ta mượn nồi đồng lớn, thành phố thì có nồi nhôm có thể nấu cho hai ba chục người 

  

ốc gạo

    Khác với trong nam, chợ miền trung hay dùng lon sữa bò để đong các thứ hàng khác. Người bán muối cũng dong bằng lon, bán phân trồng lúa cũng đong bằng lon...thậm chí con mớ ốc gạo từ dưới dòng Thạch Hãn mới luộc xong với lá sả thơm phức cũng đong bằng lon sữa bò như thế. Dạo một vòng quanh chợ còn nhiều thứ cần cai lon đó để làm đơn vị cân đo đong đếm kể khó hết.


                                sim rừng

                              dâu rừng

   Quanh ngoại ô thành phố, ban đêm dưới ánh đèn đường o bán hàng dân dã. Trái sim chín, hạt mốc mốc trái hạt sót, trái dâu rừng cũng đong bằng lon sữa bò không hơn không kém. Kể không hết chuyện cái lon không với đời sống dân mình ngày đó.



   Ngày xưa dưới quê thường lên bán gạo ruộng mới xay xong cũng bán cho người thành phố và đong bằng lon. Người viết nhớ lúc còn nhỏ thời Cụ Ngô, mẹ mình mua 100 đồng được hơn năm mươi lon gạo ruộng. Gạo đó là thứ gạo trái mùa, giã xong còn màu nâu nhạt hay dùng nấu cháo ăn sáng. Cháo trắng đó ăn với cá bống kho khô ngon và tốt lắm. Đó là thời gạo ruộng quý, ít ỏi hơn gạo tạ. Lúc đó người mình gọi gạo tạ là thứ gạo từ trong nam ra, chứa trong bao đay. Người ta kêu gạo tạ (100 kg) do một bao cân đúng 100 kí lô gam.


 Chuyện "đời"  cái lon sữa bò, tất nhiên là lon không kể ra nhiều thứ lắm. Một tập hợp thật lắm hình ảnh nhưng dung dị, đi cùng cuộc sống thật đời thường. Thế mà lúc chúng ta nhớ lại vẫn là những kỷ niệm nho nhỏ nhưng lại gắn bó với hình ảnh thân thương ngày cũ. Còn nhiều lắm...




Cái lon hư rồi cũng thành đồ chơi cho con nít trong xóm. Nào mấy thứ để chơi như đá lon, lũ con nít chúng tôi la vang trong đêm hè, điện thoại  alo- alo hai đứa đứng hai đầu, sợi chỉ căng thẳng, mi nghe khôn rứa???... Cũng có khi chúng tôi dùng cái lon hư nhốt chú dế bên trong, ngày mai sẽ thi tài cùng mấy con dế lũ bạn...


Đến lúc lớn lên, rồi cuộc đời "dâu bể" ập đến. Cho đến lúc làm người lính chiến, sau buổi Can Qua vào "tù cải tạo", té ra cái lon sữa bò kia vẫn mãi theo mình! Ôi nhớ (hay thương) cái lon làm sao! Bấy giờ lon là "của quý", do nó hiện thân thành cái nồi tí hon giúp cho người tù nấu chút gì đó, từ nhúm rau lang cho đến củ sắn củ khoai... giúp người trong lúc đói lòng./.


Đinh trọng Phúc

tái edit 


mồng 6 tết Bính Ngọ 2026

Tuesday, March 10, 2026

CÂY ĐÒN GÁNH CỦA MẠ


Đồng cảm và cám ơn một bài thơ




CÂY ĐÒN GÁNH

Lưng cây đòn gánh mòn trơn
Lời tre khô nhắc công ơn mẹ già
Chợ chiều chợ sớm bôn ba
Hái gieo tất bật đồng xa đồng gần
Bán than mua muối tảo tần
Bao lần xuống biển bao lần lên non
Da xương bào cật tre mòn
Trăm năm mẹ gánh đời con qua đèo
Gánh yêu thương, gánh khổ nghèo
Gánh mơ ước lẫn gieo neo đi - về...
Gánh bình minh lội bến quê
Gánh hoàng hôn dọc chân đê bước dồn
Gánh trăng khuya giếng đầu thôn
Gánh than lửa chạy qua cồn cát trưa...
Một đời gánh nắng và mưa
Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng
Một đời gióng đứt đòn cong
Vì ai vai lệch lưng còng? Mẹ ơi!

tác giả: NGUYỄN VÂN THIÊN
(12C 73-74)

(*) bài thơ này được NH Nguyễn đặng Mừng gửi qua, in thêm sau
(**): tên loại gỗ này là cây "săng dẻo", đặc biệt nó dẻo và không bị nứt toạc khi trời khô nóng
*




Động Đền Hàm Tân 1980

Mạ thích cái đòn gánh này lắm vì nó dẻo dai, không tước gãy như những loại gỗ thường khác. Nhờ vào những năm "trong trại" con biết chiếc nó được làm từ cây "săng dẻo", loại cây rừng chuyên dùng làm đòn gánh.

Con không biết mạ gánh nó bao lâu? Con về nhà thì đã thấy nó rồi. Ngày hai buổi chợ, mạ còn gánh bao thứ lên rẫy. Mạ chỉ ưa một mình chiếc đòn gánh này thôi. Hình ảnh nó cong dần theo tháng ngày mạ tần tảo nuôi sống gia đình. Màu gỗ càng lâu càng xám đen, bóng loáng làm sao. Những năm sau này, con còn vót nhọn hai đầu làm đòn xóc đi gánh tranh về lợp lại mái nhà tranh che chở cho gia đình.

Lòng con nao buồn khi hình dung lại hình ảnh cái đòn gánh từng hằn sâu trên vai mạ. Bao khổ nhọc, lao lung, thời gian nhà mình thiếu thốn mọi bề.

Rồi con được ra tù về sum họp với gia đình. Những lần gánh khoai theo chân mạ, con khám phá ra sau cổ mẹ nổi lên một khối u. Chính nó là chứng tích bao lần mạ trở vai, lúc cái đòn gánh vẫn còn hằn nặng trên vai. Chiếc đòn gánh 'trung thành' với mạ theo tháng ngày cơ khổ ở xứ Động đền của lưu dân Quảng trị. Chiếc đòn gánh như 'đồng cảm" cùng đi tìm miếng cơm manh áo cho cả nhà mình. Thân mạ lặn lội chẳng quản nắng mưa, đau yếu.

Từng buổi khuya ba bốn giờ sáng, nhớ làm răng những lúc con lẳng lặng gánh mấy thúng khoai chạy theo mạ trong lòng con lại có những nỗi buồn riêng, dâng lên niềm đau xót. Cái thời chẳng còn chi ngoài cái rẫy bạc màu mà quá bon chen kiếm cho ra vài ba mét đất. Mạ phải sinh tồn với cái chợ nhà quê, vẹo xiêu trong miền gió cát. Mạ thỉnh thoảng lại đổi vai ; cái đòn gánh chắc lại có dịp chà xát, nghiến qua khôi u sau cổ mạ, cái khối u ban ngày con từng nhìn thấy. Những cây số đường trường, mập mờ ánh sao khuya. Chợ Lagi còn xa, nhưng hai mạ con không quá cô đơn do bà con trong thôn cũng có người gánh hàng ra phố thị.

Qua khỏi nghĩa địa hai mạ con mới có dịp nghỉ chân. Trời cũng vừa tờ mờ sáng, mạ và con lại tiếp tục gánh đi. Hình ảnh những đồng bạc kiếm ra khi về đến chợ sáng nay, làm hai mạ con ta càng thêm sức mạnh, quên luôn cái cảm giác mỏi đau. Con vẫn mong gánh hoài sau mạ. Những thúng khoai nặng nề để phần con. Con chấp nhận và từng để ngoài tai những lời to nhỏ rằng "thiếu úy 'khoai lang", đời lên voi xuống chó là chuyện thường tình; nhưng con còn may mắn lúc về nhà còn có mạ ba và cả gia đình.

Phố Lagi còn yên giấc ngủ. Tiếng đôi dép mòn của mạ giờ mới có dịp khua trên mặt nhựa đường. Âm thanh "lẹp xẹp" kia lần qua từng khung cửa sắt, từng cái cổng kín mít để vào trung tâm chợ. Âm vang tiếng dép của mạ như dội vào lòng con như những 'tiếng đời' nghe sao buồn quá. Con vẫn gánh sau mạ như để "hộ vệ" khi có chuyện gì. Đòn gánh mạ vẫn vẫy nhịp đều. Tiếng đôi dép nhựa lại khua vang đều hơn. Có thể mạ càng thêm sức mạnh và mừng vui hơn khi có đứa con trai, tù về, đang gánh những thúng khoai nặng trĩu, chạy đều sau lưng.

Nhưng mạ đâu biết rằng, những lúc này đây con lại càng muốn gánh chạy sau mạ; do con muốn dấu đi mấy giọt nước mắt đang rơi./.

Edit lại nhân mùa Vu Lan 2022
ĐHL
Kỷ Niệm Hàm Tân Bình Tuy 1982


đoản văn: NGÀY ĐÓ NAY ĐÃ LÀ NGÀY XƯA



NHẠC PHỤ NHẠC MẪU CÙNG NHÀ TÔI ĐANG GÓI BÁNH TÉT TẾT 2017

HÌNH ẢNH THÂN MẪU người viết TẾT NĂM 2013


cậu quá cố của người viết dự đám cưới cháu tháng 1 năm 2017 tại Phan Thiết



    Hình ảnh nhiều người thân nay đã thực sự nằm vào vũng dĩ vãng. Tôi cảm nhận ra bao hiu quạnh cùng sâu lắng trong lòng khi về lại thôn xưa. 

Tứ thân phụ mẫu vợ chồng tôi nay đã ra đi. Tất cả đều theo nhau về với quá khứ. Năm nay trở lại mái nhà xưa, tôi có một cảm giác mấy con đường mới lúc đêm về lại vắng hơn? Có khi tôi ngồi một mình tôi lại cảm giác vách tường đang buông lời "tâm sự"? Quanh tôi, căn nhà trở nên vắng ngắt đến não lòng. Một không gian tưởng chừng lung linh, ảo ảnh cùng nhang khói nhớ nhung... 



Ai cũng thế mẹ cha mình đều lần lượt ra đi giã từ số kiếp làm người trong cõi tạm trầm luân với bao cảnh đời nghiệt ngã phong trần. Bao tháng ngày gian khó có nhau dưới mái tranh ủ dột và ngoài kia nương lúa cùng đồng rẫy bạc màu. Những thế hệ nối tiếp nhau cùng quảy gánh phong sương dưới đất trời quê hương cùng thăng trầm nhân thế.





Cha đã đi rồi mạ cũng đi rồi! Hai đấng sinh thành đều cùng dắt tay nhau về miền dĩ vãng. Trong ráng chiều hiu hắt hay ngọn gió lung lay nhánh cây bờ cỏ, tôi nghe như có tiếng thở dài!? Phải chăng đó là nỗi nhớ khôn nguôi hay ánh nhìn thương cảm của người đi xa?!



Phố phường đã đổi thay, quê hương lần lượt bận vào nhiều làn áo mới. Nhưng chỉ có người phương xa thăm lại quê nhà mới cảm nhận được sự trống vắng lúc về. Người xa về sẽ cảm nhận sự mất mát từ bao thanh âm đoàn tụ trong ngày tết đó. Bao sửa soạn lo toan, tiếng nói tiếng cười hay cùng nhau bàn soạn nay không còn nữa!

Tất cả đã thực sự đi vào hoài niệm khi "ngày đó nay đã là ngày xưa"./.


Đinh trọng Phúc 11/3/2026

Sunday, March 8, 2026

NGÀY TÔI NHẬP NGŨ


 

Ngày tôi nhập ngũ giã từ tuổi học trò

 có người em gái nhỏ đưa tôi rời xa thành phố

Tôi ra đi vì yêu thương lên tiếng gọi

Nghìn ưu tư xin gửi lại cho người nhớ người thương ...


Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ -Nhạc Sĩ Song Ngọc)




          Cuối tháng 11 năm 1973 tôi mãn khóa 12/72B -SQTB tại Đống Đế Nha Trang. Lúc lên chọn đơn vị, không hiểu sao tôi lại chọn ngay Quảng Trị, trong lúc toàn bộ gia đình tôi đã tản cư vào tận Mỹ Tho từ hè 1972.  Giờ tôi nghĩ lại cũng là cái số, cũng có thể do lòng thuơng nhớ quê hương do đó người viết nóng lòng muốn trở lui phục vụ lại quê nhà dù quê cũ chỉ còn là đống gạch vụn.




 Phép mãn khóa 2 tuần gần hết, tôi phải giã từ gia đình, rời Mỹ Tho  lên đường xuôi trung ra đơn vị tức vào mùa Giáng Sinh 1973. Trước khi ra Diên Sanh, tôi không quên ghé Đà Nẵng thăm bà con đang còn tạm cư tại đó. Thời gian nhằm lúc Đà Nẵng đón Giáng sinh 1973. Quê hương mùa chinh chiến, có không khí nào để chiêm nghiệm được hình ảnh của Giáng Sinh ngoại trừ sự ảm đạm chia tay đó là lúc người chạy giặc Quảng Trị thêm một lần chia tay chuẩn bị đi theo CHƯƠNG TRÌNH KHẨN HOANG LẬP ẤP. 



Bao nhiêu là lưu luyến rộn ràng, chuyện xe cộ , chuyện đồ đạc và sau hết là chuyện đau lòng cho những tấm lòng người QT một số lớn phải "rứt ruột " ra đi lần nữa do CHẲNG CÒN ĐẤT SỐNG. 

Đời trai là đấy núi rừng lỡ hẹn rồi

Biết mình thương rất nhiều nhưng quê mẹ đang lửa cháy

Đêm đêm nghe ngoài xa kia vang súng trận

Thành đô hôm qua bỗng lạnh, hỏi lòng mình nghĩ gì đây...(nhạc)

  






  Bình Tuy ( 1975 làThuận Hải) : MỘT THỜI KHAI HOANG LẬP ẤP từ trường phổ thông cơ sở 1 xã Sơn Mỹ -Hàm tân- ngó lên xa xa là ngọn Mây Tào - Long Khánh  (7/1995)

  Gần hai năm tạm cư tại Đà Nẵng, không có của đâu để người ta nuôi mãi? thế là phải đi, phải chia tay , một nửa vào Bình tuy theo chương trình Khẩn Hoang Lập ấp, một nửa hồi cư về lại quê hương. Người đi kẻ về , tất cả đều sắp sửa đương đầu với một tương lai bấp bênh phía trước ,trong khi chiến sự chưa yên, chưa có hòa bình thực sự. 

   Nấn ná ở Đà nẵng chơi vài ngày. Tôi qua Hòa Khánh thăm NGuyễn văn Bốn , hắn ra trường trước tôi chọn "rằn ri " tức là Biệt động Quân làm binh chủng giờ hắn liên đoàn 15 vùng Tây nam Huế. Hòa Khánh chắc người di cư QT khó quên ; những quán cà phê thấp lè tè một bên con đường của căn cứ nhà binh cũ, cái chợ lợp lá cũng tạm bợ 'lỏng chỏng' ba cái sạp tre. Con người ăn ở chen chúc nhau trong mấy cái nhà tiền chế của trại lính bỏ lại cho dân lánh nạn. Người QT không biết đi đâu,về đâu ? những tâm hồn lững lơ, những lứa thanh niên không biết đâu là tương lai sự nghiệp? Lứa của chúng tôi thì đã chọn rồi , đó là NGHIỆP LÍNH con đường phải đi cùng với quê huơng ngập tràn khói lửa. Tôi lại qua Non Nước , phi trường này cũng bỏ phế và cũng là chổ tạm dung thân cho người QT nhưng có liên hệ đến công chức và quân đội. Những đợt kiểm tra người , những lần hành quân kiểm soát , sự chạy đôn chạy đáo của những gia đình khai thêm hồ sơ để kiếm thơm mớ gạo , vài ổ bánh mỳ phát phụ ban chiều thấy cũng thảm hại làm sao. Ôi một quê huơng ngoài kia , bao sự nghiệp nát tan theo Mùa Hè Đỏ Lửa để vào đây 'kiếm năm ba ổ bánh mỳ  hay'đổi' lấy tương lai? Một sự đổi chác chắc hẳn rằng không ai muốn mà phải chấp nhận nghe sao quá đắng cay?

    Nghĩ lại phận mình, tôi chua chát nhận ra các bạn và tôi sự nghiệp học hành giữa đường 'đứt gánh'  không ai muốn mà phải khoác vào? Ngày về lại Quê Huơng, chỉ sau hơn một năm trời nay đầu tóc húi cao, áo quần trận màu xanh ô liu cộng thêm màu da sạm nắng do sau mấy tháng quân trường. Tự mình 'thấy lạ cho mình'trong niềm vui tái ngộ với bà con cô bác. Dù sao tất cả đều may mắn hơn bao bà con đã bỏ xác lại bên ĐOẠN CẦU DÀI, những cái chết oan khiên, giờ hồn oan vất vưởng nơi đâu?



KHU CƯ XÁ CÔNG CHỨC SÁT CẠNH TIỂU KHU QUẢNG TRỊ ĐÓNG TẠI DIÊN SANH 1974 (cái lầu là Trường Nguyễn Hoàng)



   Nấn ná Hòa Khánh, Non Nước...đến khi tôi ra trình diện Tiểu Khu QT tại Diên Sanh thì tôi thật sự đã trễ phép gần cả tuần. Nhưng nhờ thế , tôi có dịp thăm lại Diên Sanh nơi Khu Thị Tứ QT xây dựngt trên cồn cát Diên sanh đối diện với Tiểu Khu. Tiếng là Khu Thị Tứ , nhưng là một vùng đất khô khan nghèo nàn. Những dãy nhà tôn sát cạnh nhau, không có lối sống như xưa nữa. Người dân ăn theo đồng lương lính, ngoài ra chẳng còn gì. Hết trợ cấp 6 tháng , ba bữa ăn tiết giảm còn lại 2 cũng còn chật vật.[*] Hồi Cư tiếng là vậy nhưng hết 6 tháng trợ cấp , chuyện mưu sinh trên một vùng đất trắng đang trở thành một "thảm nạn " cho bà con trước đây là dân thành phố  lại một sự "đổi đời " đắng cay cho những ai về trước?

 
QUA CỔNG TRƯỜNG XƯA 

    
Tôi theo chiếc xe GMC tiếp tế ra trình diện tiểu đoàn cũng như sẽ về đại đội đang đóng quân ở cầu Ba Bến. Chiếc GMC ra đến xa lộ Đại Hàn thì quẹo phải hướng về thành phố Quảng trị. Khó diễn tả nỗi xúc động trong lòng tôi lúc đó, nó cứ dâng mãi không thôi. Mới hơn một năm giã từ QT trong cơn loạn lạc của chiến chinh, giờ thì tôi trở về trong quê hương với màu áo lính. Màu áo trắng vĩnh viễn không còn nữa nó đã bay xa và cuốn theo bao nhiêu mộng ước của tuổi học trò. Thực tại hôm nay chỉ là cảm giác nôn nao bỡ ngỡ của một anh lính trẻ ngày đầu về đơn vị mới. 

Chiếc xe đơn vị ì-ạch qua dấu vết cũ của ‘bót’ Long hưng, lắc lư chạy theo con đường Lê Huấn hoang phế hướng về Cổ Thành, rồi nó quẹo phải…Nguyễn Hoàng đây chăng? Trường cũ của tôi trước mắt chỉ là một đống gạch đá đổ nát hoang tàn. Tôi thật bàng hoàng vì cảnh tan nát của mái trường thân yêu vượt xa sức tưởng tượng của tôi. Ôi chiến tranh chỉ là tàn phá và hận thù. Tôi cố tìm lại vị trí của cái cổng trường nhưng giờ đây chỉ còn lại mấy lõi sắt cong queo. Chiến tranh đã xô đẩy biết bao nhiêu đứa học sinh Nguyễn Hoàng trôi dạt khắp mọi nẽo đường đất nước. Tôi trở về, bơ vơ bên ngôi trường thân yêu đã chết, cạnh một thành phố tan nát, đìu hiu lau lách . Tất cả đứng chịu tang trong cơn lạnh mùa đông nơi miền Giới Tuyến Địa Đầu.  

Ôi chiến tranh, chiến tranh hiện diện

Trên quê hương tôi, hai mươi năm trường rồi

Còn đâu biết tìm lại đâu, những dựng xây đổ nát...


  Quá khứ  qua mau như gió thoảng, 1972-1973 - chỉ một năm mà 'vật đổi sao dời' như  huyền thoại ?  Xưa, bà Huyện Thanh Quan thuơng cho cảnh đổi thay của thời bà mà khóc cho "lối xưa xe ngựa hồn thu thảo "; chỉ ngần ấy đổi thay  cũng đủ làm bà đau xót , thuơng cảm.
 Nhưng nay, nỗi đau của quê huơng nói sao cho vừa ?còn gấp nhiều lần đau xót của người xưa !  mẹ gánh con mệt đứt hơi qua làn bay đạn pháo ; ông ôm xác cháu huớng về nam sao còn cứu được mạng bé thơ? Đoạn Cầu Dài còn khắc ghi máu lệ , làm sao nhạt nhòa được chỉ với một năm ? 



   Quá khứ như hiện về trong tôi... tiếng xôn xao của đám học trò chen nhau vào cổng. Hai cái cổng phụ bị ông phu trường lạnh lùng đóng lại cho "mấy cậu cô " đi trễ. Rồi những khuôn mặt ngơ ngác, ân hận, âu lo của những "tiểu thư" áo trắng hay 'quyết định vượt rào '  của mấy cậu nam sinh. Những hình ảnh tưởng chừng như hôm qua thôi! Thế mà giờ đây trước mặt tôi là sự hụt hẫng, những cảm xúc buồn bã nhớ nhung, một người đang háo hức về lại chốn xưa bị dội lại từ một thực tế quá phũ phàng.



VĨNH ĐỊNH- MỘT DÒNG SÔNG QUÊ

  Đến cầu Ba bến chiếc cầu sắt nhỏ bắc qua con sông Vĩnh Định, chiếc GMC chạy thẳng vào sân BCH tiểu đoàn, tôi vội nhảy xuống xe lo ‘gôn’ quần , xắn tay áo cho đúng quy cách. Tôi cố gắng chuẩn bị tư thế nhà bình thật nghiêm chỉnh trước khi vào trình diện tiểu đoàn trưởng.
 Thật sự tôi đã trễ phép gần 2 tuần lễ, biết ăn nói sao với tiểu đoàn trưởng đây? hay là mình lấy lý do gia đình ở tận Mỹ tho tỉnh Đình tường, tôi còn phải thăm bà con chiến nạn đang tạm cư ở Đà nẵng nữa. Tôi hy vọng mấy lý do này cũng tạm ổn. 

--Chuẩn Uý Đinh ...số quân 73/008310 trình diện đại uý Tiểu Đoàn Trưởng đợi lệnh.


  Tôi đứng nghiêm chào, xưng tên họ, số quân, cấp bậc... bên ngoài tôi cố gắng làm ra dáng bình tĩnh nhưng trong bụng tôi thực sự run run. Tiểu đoàn trưởng Hồ Văn Cầu đang ngồi ăn cơm với ông Tiểu đoàn Phó trong căn hầm chỉ huy 'trợn mắt gằn giọng' hỏi lý do trễ phép? ông to giọng phê phán vấn đề vô kỷ luật của tôi, hơn nữa tôi là một sĩ quan trẻ mới ra trường...

  Tội nghiệp cho tôi, ấp úng trình bày lý do trễ phép mong tiểu đoàn trưởng ‘thông cảm’. Hình như Tiểu đoàn trưởng thấy vẻ mặt và dáng dấp ‘búng ra sữa’ của tôi ông cũng thấy ‘tội nghiệp’, dịu giọng, ông cho phép tôi ra ngoài chuẩn bị qua trình diện Đại Đội Trưởng đại đội 2 Lê kim Chung  Đại Uý Chung anh người gốc làng BÍCH KHê, đại đội anh đang đóng bên kia múi cầu Ba bến canh BCH tiểu đoàn.


  Ra đứng tần ngần ở sân tiểu đoàn, cũng may tôi gặp anh Trần quang Hiền, trưởng ban 3 tiểu đoàn.
  Anh Hiền coi bộ biết thương khóa đàn em mời ra trường như tôi. Thật đúng với cái tên Hiền anh hiền lành vui vẻ, mới gặp anh lần đầu mà tôi đã thấy gần gũi vững lòng lại sau khi bị tiểu đoàn trưởng khiển trách
. 










ngã ba sông: nhánh sông đào Vĩnh Định chảy qua cầu BA Bến


   Chia tay anh Hiền, tôi lại mang ba-lô súng đạn đi bộ qua lai cầu Ba Bến chiếc cầu mà mấy mùa vắng bóng dân đi. Bên kia ngã ba sông là thôn Nại cửu đó là làng ngoại tôi, một nửa làng nay thuộc về phía "bên kia". Thỉnh thoảng lại nghe văng vẳng tiếng kẻng liên hồi, có thể là tiếng kẻng giục dân ra đồng hay hội họp.  Giữa cầu trời vẫn mưa, thứ mưa phùn dai dẵng tiếp nối ngày này qua ngày khác. Đối với người Quảng Trị, ai cũng quen thứ cảm giác mưa lạnh sang đông. Bỗng lạ, sao hôm đó trong tôi cảm thấy nao nao? Phải chăng đó là tâm trạng khá buồn. Có chút gì lạc lõng của một người lính trẻ vừa hết cái phép đầu tiên và phải về trình diện đơn vị mới.  Tôi đang đứng giữa Cầu Ba Bến, bên kia là quê Ngoại, bao hình ảnh thân thương những ngày con nít, níu tay bà ngoại về làng, những người xưa cũ. Nay bên đó chắc hẳn chẳng còn ai, quê nhà lưu lạc tứ phương. Gia đình đông vui, ba mẹ anh em, bà con, bạn bè, người thương xóm cũ chưa vẹn 2 năm nay cách xa biền biệt tận miền nam. 


   Tôi nán dừng lại giữa cầu thêm một ít thời gian, lặng ngắm nhánh sông đào Vĩnh Định. Con sông vắng vẻ in bóng tre, đôi bờ đìu hiu, không một con đò. Dân chưa về hồi cư để cùng nhau xây lại nếp sống thanh bình với đồng lúa xanh cùng bóng mục đồng, hình ảnh ngày xưa tôi thường thấy mỗi lần về thăm làng ngoại. 


   VỀ ĐƠN VỊ

Sau khi trình diện đại đội trưởng Lê kim Chung , tôi được nằm chờ tạm ở một căn hầm nằm sát bờ sông để chờ ngày ra giữ trung đội. Đại đội 2 đóng phía bên này sông có nhiệm vụ bảo vệ cho Tiểu đoàn nên tương đối nhàn hạ hơn mấy đại đội khác. Đại đội trưởng Lê kim Chung tính trầm lặng. Hình như anh cũng thông cảm khóa đàn em. Có lẽ những cảm giác bỡ ngỡ đó cũng giống anh , những ngày đầu,  khi anh mới ra đơn vị ?  Trời vẫn mưa, những cơn mưa phùn dai dẳng, lê thê, tưởng như bất tận. Ánh sáng nhạt nhòa,  mấy cục pin xài lại từ máy truyền tin trong hầm trú ẩn, là cơ ngơi cho tôi ngày đầu tiên về đơn vị mới. Tôi may mắn được nằm trên một tấm ván ép Mỹ cũ kỷ, do lính đại đội lên tận Cổ thành đào, kiếm đem về. 

  Lính xa nhà, thú vui giữa các sĩ quan đại đội là bộ cờ quân đã cũ. Cái nền nhà và vài vách tường còn sót lại của ban chỉ huy đại đội là cơ ngơi cho tất cả mọi người ở đây. Bộ cờ quân là thú vui duy nhất cho anh Chung và mấy sĩ quan khác. Chiều mưa trung úy Ba, đại đội phó, anh người Huế dạo khúc đàn với bản nhạc "DONNA DONNA" tự nhiên lòng tôi sao bâng khuâng xao xuyến...


Lớp Đệ Tứ Ba của tác giả Trường Nguyễn Hoàng niên khoá 1968-69 
 từ phải qua: Nguyễn Duy Thượng,(mất) Dương Văn Khôi (mất), Đinh trọng Phúc, Nguyễn tăng Phước, Lê thị Kim Lan, Nguyễn thị Nhạn, Lê Đức Mê 

   








Tình yêu là đấy mắt buồn xin gửi lại

Tiếng Việt Nam vĩ đại đưa anh lìa xa tuổi nhỏ

Quê hương ơi giùm thương cho anh lính trẻ
Từ nay chân đi khắp nẻo câu chuyện lòng nhớ lại thôi. (nhạc sĩ Song Ngọc)


Chẳng màng đến cởi giày, tôi nằm thừ trên miếng ván kê gần sát mặt đất nên tôi ngửi được cả mùi ẩm thấp và ướt át trong căn hầm. Ngày ra trường tôi tự nguyện chọn về đây kia mà! Tôi đã chọn quê hương Quảng trị vì tôi nhớ nó, vì tôi còn thương cả một vùng trời đầy ắp kỷ niệm. Tôi cố gắng lấy lại giấc ngủ sau một hành trình đầy lo lắng và cảm xúc. Trong cơn lim dim, tôi mơ màng thấy những khuôn mặt bạn bè năm xưa, mái trường Nguyễn Hoàng còn nguyên vẹn, những tà áotrắng xôn xao trước cổng trường cũng còn y nguyên. Mơ hồ trong giấc ngủ mệt mỏi, tôi nghe phảng phất một âm thanh nào đó của chợ Quảng trị ngày giáp Tết...tiếng máy cắt cẩm lệ, những sạp bán mứt , những gánh cải cay cuối năm, hoa hoa lốm đốm vàng...

  Tôi chợt mở mắt nhìn qua khe hở của căn hầm- mùa đông chiều xuống thật mau. Tôi nghe đâu đây, hình như dưới chân cầu Ba Bến có tiếng con chim bói cá kêu từng hồi buồn não ruột, trên mặt sông Vĩnh định màn mưa phùn theo gió lướt thướt bay ./.

Đinh trọng Phúc
bài đăng lại 

NGHE CHIM CU GÁY

Nhớ con cu gáy đậu cành tre cất tiếng cúc cu bóng mẹ về Tan buổi chợ chiều chân bước vội Một đời của mẹ với làng quê... ( Pham Khâm, Dòng Sô...